Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Nón lá Trà Lộc

Thứ tư - 26/04/2017 07:20
Nón lá là hình ảnh quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam nói chung, Trà Lộc Quảng Trị nói riêng tuy mộc mạc, mong manh, lam lũ nhưng rất duyên dáng. Làng Nón lá Trà Lộc đã có cách đây hàng trăm năm được người dân nơi đây lưu giữ và phát triển qua nhiều thế hệ cho đến bây giờ. Nón lá Trà Lộc vừa đẹp, vừa bền được nhiều người yêu thích.
Những chiếc nón được xếp thành một đóa hoa
Những chiếc nón được xếp thành một đóa hoa
Nón lá không chỉ là vật che mưa, che nắng mà nó còn chứa đựng kho tàng lịch sử của nền văn minh lúa nước người Việt. Nguồn gốc của chiếc nón là câu chuyện kể về một phụ nữ cao lớn, bà luôn đội một chiếc nón làm từ bốn chiếc lá hình tròn. Bất cứ nơi nào người xuất hiện, những đám mây tan biến nhanh và thời tiết trở nên thuận lợi. Sau khi dạy người dân trồng lúa và những loại cây lương thực xong, vị nữ thần này biến mất. Người Việt biết ơn nên xây dựng một ngôi đền để tưởng nhớ công ơn của nữ thần. Người Việt xưa đã cố gắng tạo ra một mô hình chiếc nón tương tự của nữ thần bằng cách xâu những lá cọ lại với nhau và bây giờ nó được gọi là nón lá. Hình ảnh nón lá đã trở nên quá gần gũi và thân quen với người nông dân trên những cánh đồng. Nón lá được làm từ những nguyên liệu đơn giản và sẵn có như lá cọ, lá nón, tre... Nhưng qua bàn tay khéo léo của những nghệ nhân, chiếc nón lá đã trở thành một một biểu tượng của nhiều làng nghề truyền thống. Mỗi vùng miền tại Việt Nam có mẫu chiếc nón lá riêng biệt. Nón lá được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, có khi các bà các mẹ đội nó đi chợ hay người nông dân làm việc trên cánh đồng. Nón lá còn được xem là một biểu tượng của con người Việt Nam hiền hòa. Hơn nữa, nhiều du khách trân trọng nón lá và xem nó là một món quà lưu niệm khi đến thăm Việt Nam. Mặc dù chiếc nón lá không còn là vật dụng hàng ngày của người phụ nữ ở các thành phố lớn nhưng nó vẫn rất phổ biến ở làng quê Việt Nam. Hình ảnh người con gái trong tà áo dài và đội chiếc nón lá là nét đặc trưng cho người con gái Việt Nam.
            image003
                                            Sản phẩm được hoàn thành
Vào một ngày đẹp trời chúng tôi cùng với đoàn làm phim “Chương trình S Việt Nam – Một Việt Nam kỳ diệu” – Đài truyền hình Việt Nam về xã Hải Xuân để quay một số video clip nhằm giới thiệu một số địa danh du lịch nổi tiếng, làng nghề truyền thống, trong đó có làng nghề truyền thống Nón lá Trà Lộc. Trà Lộc là một trong năm làng thuộc xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cách thị xã Quảng Trị khoảng 8km về phía Đông.
                           image004
                                          Tổ làm Nón – mỗi người một việc
Trải qua hàng trăm năm với biết bao thế hệ nối tiếp nhau lưu truyền từ đời này đến đời khác, gìn giữ và phát triển nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề làm nón lá ở đây được làm thủ công hoàn toàn, nguồn nguyên liệu là lá nón tự nhiên mọc ở rừng và nguyên liệu phụ là tre, mùng có sẵn ở địa phương, nhờ bàn tay khéo léo của những người thợ lành nghề mà sản phẩm nón nơi đây làm ra có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, được khách hàng nhiều nơi ưa chuộng. Nhờ nghề truyền thống này mà hàng trăm gia đình nơi đây có việc làm quanh năm, thu nhập ổn định. Hiện nay thôn Trà Lộc có khoảng hơn 300/457 hộ chuyên nghề làm nón. Đây là nghề đòi hỏi sự khéo tay và kiên trì nên tham gia làm nghề chủ yếu là phụ nữ. Cứ vào lúc nông nhàn, khi công việc đồng áng đã xong, người dân ở đây mới làm nón. Tùy vào từng loại nón 2 lớp, 1 lớp, nón 16 vành hay nón 17 vành,...mà thời gian để làm ra một chiếc nón sẽ khác nhau. Bình thường mỗi người làm được từ 2 - 3 chiếc nón/ngày.
Nguyên liệu làm nón được chọn lọc và sản xuất qua nhiều công đoạn tỷ mỉ, rất kỹ càng, tinh xảo, mẫu mã có tính thẩm mỹ cao theo hướng hàng lưu niệm mang tính thẩm mỹ cao. Để có được chiếc nón lá bền đẹp, đòi hỏi người làm nón phải qua nhiều công đoạn khác nhau. Sau khi mua lá nón về, người thợ đạp cho mềm và đem sấy khô bằng than kín hoặc ủi (là) để đảm bảo được màu xanh của lá. Lá nón sấy khô trước khi đem ủi phải trải xuống nền đất trong thời gian một ngày cho lá dịu để bóc ra khỏi bị rách lá. Xong công đoạn đó thì người thợ dùng bàn là có độ nóng vừa phải là từng chiếc lá cho phẳng ra, khi là xong lấy vải cuộn tròn đè lên để lá được phẳng và láng. Lá ủi xong có 02 loại: lọai sưa bẹ chọn làm lá ngoài, loại dày bẹ chọn làm lá trong. Sau khi đặt lên khuôn, dùng kim thanh, gấc thanh để chằm nón. Để bảo vệ lá nón đượm màu và đẹp, người làm nón sơn lên nón một lớp dầu trong để cho nón được bóng đẹp và không thấm nước vào các lỗ kim chằm (chằm có nghĩa gần giống với khâu, vá nhưng khi nói đến nón lá thì người ta sử dụng từ chằm – chằm nón, còn khâu vá là sử dụng may vá áo quần). Ngoài ra có thể làm nón bài thơ, nón lưu niệm du lịch tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Giá mỗi chiếc nón loại tốt khoảng 70.000 đồng/chiếc, loại bình thường dao động từ 50.000 - 55.000 đồng/chiếc. Tuy nhiên số lượng nón được làm ra cũng chưa được nhiều, thị trường tiêu thụ cũng chủ yếu trong tỉnh và một số tỉnh trong nước chứ chưa phát triển ra thế giới, chưa trở thành sản phẩm thiết yếu, phổ biến trên thị trường, cũng như chưa trở thành món quà hấp dẫn, ý nghĩa cho du khách mỗi khi đến Quảng Trị.                    
image007
Đang chằm Nón
Tôi thiết nghĩa đây là làng nghề truyền thống nổi tiếng có thương hiệu đã gắn bó lâu đời tại vùng đất này và có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nơi đây. Do vậy, các Sở, ban, ngành liên quan cần có những định hướng, chiến lược đầu tư, hỗ trợ thêm cho người dân để tập trung sản xuất với số lượng nón lớn hơn, đa dạng mẫu mã, hình thức trang trí đẹp hơn, chất lượng cao hơn và mở rộng thị trường bán sản phẩm đồng thời phối hợp mở nhiều lớp tập huấn nâng cao tay nghề nón lá cho người dân. Qua đó thu hút được nhiều người tham gia làm nón nhằm để bảo tồn, gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống Nón lá Trà Lộc.

Tác giả bài viết: Ngô Văn Minh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây