Dòng sông của định mệnh lịch sử

Chủ nhật - 20/07/2014 21:42
(QT) - Ngày 7/5/1954, chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ dội sang bầu trời châu Âu, nỗi thất bại bao trùm nước Pháp, điện Élysée buông cờ rũ. Tại hội nghị Giơ-ne-vơ, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hoà do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu với tư thế của một dân tộc chiến thắng, bước vào hội nghị và với bản đề nghị 8 điểm nổi tiếng, làm cơ sở cho hội nghị thảo luận. Vấn đề có tính nguyên tắc, lập trường cơ bản là Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam, là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ; vấn đề thống nhất đất nước do nhân dân Việt Nam quyết định.
Du khách tham quan cầu Hiền Lương lịch sử- Ảnh: ĐĂNG ĐỨC
Du khách tham quan cầu Hiền Lương lịch sử- Ảnh: ĐĂNG ĐỨC

Tháng 7, hội nghị Giơ-ne-vơ đã bước vào giai đoạn quyết định, những nhân vật có ảnh hưởng chi phối thế giới, với những toan tính quyền lực giữa Đông-Tây, đại diện cho các nước lớn: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và cả Trung Quốc chụm lại trên tấm bản đồ hình chữ S, bởi ảnh hưởng chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta đã được đặt lên bàn cân chiến lược toàn cầu. Những âm mưu và sự giằng co quyết liệt để định đường phân chia ranh giới tạm thời tập kết lực lượng hai miền Nam-Bắc Việt Nam trong giai đoạn quá độ đi đến tổng tuyền cử thống nhất đất nước. Rồi số phận của một dân tộc đã đến khi cây bút chì đỏ chạm vào địa danh “Sông Bến Hải”, họ đã chỉ ra con sông nhỏ bé chạy theo một đường thẳng từ dãy Trường Sơn ra đến biển tại Cửa Tùng, trùng khít với vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời, một giới tuyến mà họ xem là lý tưởng về mặt địa lý cũng như thế cân bằng quyền lực mà các nước lớn có thể thoả hiệp. 

Đêm 20/7/1954, định mệnh của lịch sử đã đặt lên dòng sông Bến Hải, con sông chỉ dài 100 km, còn có tên là sông Minh Lương hay Rào Thanh bắt nguồn từ đỉnh Động Châu của dãy Trường Sơn băng qua những cánh rừng đại ngàn đến cầu đường sắt Tiên An thì đi giữa đồng bằng của hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh rồi đổ ra biển tại Cửa Tùng. 

Nhân dân hai miền Nam -Bắc với niềm tin sông Bến Hải chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời, sau 2 năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, bởi lời thề của các cường quốc còn đó: “Không xem dòng sông Bến Hải vĩ tuyến 17 là biên giới lãnh thổ hay chính trị”. 

Thế mà định mệnh lịch sử kéo dài 21 năm trời biết bao hy sinh to lớn của cả dân tộc mới nối liền được nhịp cầu Hiền Lương.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, Đặc khu Vĩnh Linh được thành lập với toàn bộ huyện Vĩnh Linh và xã Hướng Lập của huyện Hướng Hoá ở phía Tây Trường Sơn nằm trên thượng nguồn sông Sê Băng Hiêng. Vĩnh Linh được xem là đặc khu tương đương cấp tỉnh trực thuộc Trung ương. Và cũng từ đó với khát vọng hoà bình, thống nhất đất nước được nung nấu ở mảnh đất này đến tột độ, lũy thép Vĩnh Linh được hình thành đương đầu với cuộc chiến tranh huỷ diệt của đế quốc Mỹ đi suốt cuộc trường chinh 21 năm trời ấy. 

Dòng sông Bến Hải vẫn lặng im trôi giữa hai bờ Nam - Bắc, vẫn một dòng nước trong xanh muôn thuở. Nhưng ở phía Nam ngày ngày hàng rào dây thép gai lấn dần ra sát bờ sông, dồn dân, lập ấp chiến lược và đồn bốt mọc lên như nấm. Làng Trung Lương xưa sầm uất là thế mà bây giờ đồng ruộng hoang phế không bóng người. Hàng rào điện tử Mc.Namara bắt đầu từ đồi Cát Sơn ven biển đi qua các cứ điểm Dốc Miếu, Cồn Tiên kéo dài đến tận dãy Trường Sơn. Một chiến lũy quân sự với những thành tựu khoa học điện tử hiện đại nhất, với hệ thống lớp lớp dây thép gai và bom mìn dày đặc chưa từng có trong lịch sử quân sự thế giới. Một lực lượng lớn quân Mỹ đồn trú trên căn cứ này, một hệ thống pháo dàn hàng ngang hướng sang bờ Bắc. 

Trong lúc đó ở Vĩnh Linh là một công trường kiến thiết hoà bình, vốn là vùng đất gió Lào cháy bỏng nên thủy lợi được xem là công việc ưu tiên hàng đầu ở Vĩnh Linh. Tôi là một kỹ sư xây dựng thủy lợi thuộc những lớp đầu của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được điều động vào công tác ở Vĩnh Linh từ năm 1962 và bám trụ ở mảnh đất này cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Trên dòng sông Bến Hải chúng tôi đã xây dựng 3 trạm đo đạc thuỷ văn: Trạm Bến Tắt, trạm Hiền Lương và trạm Bến Quan trên nhánh Sa Lung của sông Bến Hải và bộ máy tuyên truyền ở bờ Nam luôn vu cáo đó là những trạm quan sát trá hình. Tôi phải nói thật với lịch sử: “Chúng tôi làm thật!” vì khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước cần có những nghiên cứu chuẩn bị cho tương lai. Tròn 10 năm từ năm 1959 -1969, các cán bộ của trạm thủy văn đó hàng năm định kỳ vẫn ra Cục Thủy văn của Bộ Thủy lợi để chỉnh biên số liệu (một danh từ nghề nghiệp) đến năm 1969 vì các trạm này nằm trong trọng điểm đánh phá hủy diệt nên phải tạm ngưng hoạt động. 

Biết rằng chiến tranh sẽ xảy ra ác liệt trên mảnh đất này nhưng năm 1961, Trung ương vẫn quyết định đầu tư xây dựng hồ chứa nước La Ngà có chiều cao đập đến 25 m, dung tích 18 triệu mnước tưới cho 1.700 ha cánh đồng 3 xã Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, công trình hoàn thành năm 1964. Vĩnh Linh cũng tự lực xây dựng công trình trung thủy nông Bàu Nhum, với kết cấu sáng tạo độc đáo duy nhất về khoa học thủy lợi: đập cao 11 m được đắp hoàn toàn bằng đất cát, hệ thống lấy nước tưới và tràn xả lũ là các ống xi phông vắt qua thân đập, hồ chứa 7 triệu mnước tưới cho 800 ha, công trình làm gọn trong một năm. Vụ đông xuân năm 1964 dòng nước Bàu Nhum đã đưa tới tận cánh đồng Cổ Trai, xã Vĩnh Giang. Đồng bào bên bờ Nam thấy đồng lúa xanh tươi mà tưởng như một giấc mơ, nhắn qua bờ Bắc sự khâm phục và niềm tin hy vọng. 

Hệ thống đê ngăn mặn dọc sông Bến Hải từ Hiền Lương đến Tùng Luật dài gần 20 km cũng được xây dựng. Khi khảo sát tuyến đê này, chúng tôi vừa quay máy kinh vĩ sang bờ Nam, anh Biền, một cán bộ kỹ thuật lạc hẳn giọng nói với tôi: “Anh ơi, vợ tôi đang ngồi giặt bên sông đấy” và như chị nhận ra anh trước, chúng tôi thấy chị cứ vò mãi chiếc áo, ngước vội nhìn sang và gạt nước mắt. Anh Biền cứ run bần bật vì cuộc gặp bất ngờ trong nỗi đau chia ly đến tột cùng. Sự xúc đông làm cả nhóm chúng tôi chẳng làm gì được, tôi cứ để anh đứng máy lia sang bờ Nam để nhìn rõ chị hơn. Hình như có động, chị vội lên bờ mà cảm như chân không chạm đất, một viên cảnh sát ra chặn đường như xét hỏi doạ nạt gì đó rồi cho chị đi. Cả nhóm khảo sát chúng tôi ngồi lặng đi. Không ai nói một câu nào, quê anh ở làng Xuân Mỵ, chỉ cần một cái đẩy sào nhẹ là thuyền sang đến bến, vậy mà gần mười năm rồi vợ chồng không gặp mặt nhau. Nỗi đau chia cắt bên dòng sông Bến Hải hàng ngày hàng giờ cứ diễn ra như vậy. 

Mùa hè năm 1967, sự ác liệt và thử thách của chiến tranh ở Vĩnh Linh đã lên đến đỉnh điểm. Pháo giặc từ phòng tuyến Mc.Namara bắn sang, máy bay ném bom B52, máy bay phản lực từng đợt từng đợt rải bom xuống Vĩnh Linh. Trong lúc đó lính Mỹ - nguỵ áp sát bờ Nam sông Bến Hải ruồng bố nhân dân. Sông Bến Hải như sôi lên để chặn lại mọi âm mưu toan tính của địch, Vĩnh Linh phải dồn nén chịu đựng, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Trung ương tránh mọi khiêu khích có thể làm nguyên cớ để chiến tranh bộ binh tràn qua giới tuyến. 

Cuộc chiến đấu ở Vĩnh Linh ngày càng ác liệt, Trung ương quyết định sơ tán ba vạn học sinh và người già ra các tỉnh ngoài Bắc. Hơn bốn vạn người còn lại bám trụ sản xuất và chiến đấu. Cả Vĩnh Linh là một công trường đào chiến hào dựng hầm chống bom, đào địa đạo. Toàn bộ sinh hoạt chuyển xuống lòng đất, điển hình là làng địa đạo Vịnh Mốc. Ở lại Vĩnh Linh là chiến đấu rồi, nhưng vừa chiến đấu vừa sản xuất mới làm nên bản sắc nhân văn của cuộc chiến đấu này, mới nói hết nỗi khát vọng thống nhất Tổ quốc của người dân sống ở vùng giới tuyến. 

Hình ảnh mẹ Diệm ở làng Hiền Lương, nơi có cột cờ bất diệt của Tổ quốc, ngồi cạnh cửa hầm chữ A lấy chút ánh sáng cho đường kim mũi chỉ miệt mài vá cờ, lá cờ bị bom đạn và gió mưa làm rách vừa hạ xuống thì lá cờ vừa vá xong lại kéo lên. Nguyệt, con gái mẹ súng khoác trên vai cùng với cả đội sản xuất bám đồng ruộng giành giật từng mét vuông đất tạm còn nguyên vẹn để cấy lúa dưới tầm đại bác của hàng rào điện tử Mc.Namara. Và trong lửa đạn ác liệt ấy, tình yêu của Nguyệt đã gắn bó cả cuộc đời với anh cán bộ kỹ thuật mà cơ quan tôi cử xuống bám trụ ở HTX Hiền Lương. Sức mạnh nào để những con người bình dị ấy bám trụ, thản nhiên trước sự hy sinh có thể ập đến bất cứ lúc nào để chắc tay súng vững tay cày đến thế, đó là sức mạnh của khát vọng quyền được sống trong hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do của Tổ quốc và gắn bó máu xương với Quảng Trị quê hương. 

Chuyện kể như vừa mới hôm qua, vậy mà đã sáu mươi năm rồi. Cùng với thời gian, dòng sông Bến Hải đã làm dịu đi những mất mát hy sinh, tắm mát cho những người con của Tổ quốc yên nghỉ ở Nghĩa trang Trường Sơn, làm cho mảnh đất nơi đây đổi thay từng ngày bởi những cánh rừng cao su, những vườn hồ tiêu và đồng lúa xanh mướt quanh năm, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao rõ rệt. 

Trên cột cờ Hiền Lương, cờ tung bay trong gió như hồn thiêng của bao người con của Tổ quốc quyện về đây, như vẫn thấy bàn tay mẹ Diệm trong những đường kim mũi chỉ. Mẹ ra đi đã chín lần giỗ rồi, hai năm sau ngày mẹ mất, Nhà nước ta truy tặng mẹ danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, điều đó cho ta thấy sự anh hùng thầm lặng và những người anh hùng vô danh mới cao quý làm sao. Như dòng sông Bến Hải ẩn chứa bao điều bi hùng của lịch sử dân tộc, của mảnh đất và bản chất con người Vĩnh Linh. 

                                                              NGUYỄN TY NIÊN

Nguồn tin: baoquangtri.vn

 Từ khóa: việt nam, hội nghị

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

niềng răngniềng răng không mắc cài, ,giày nam công sở, Phẫu thuật hàm hôNâng mũi bọc sụnbấm mí hàn quốcTour du lịch miền tây,Nâng mũi cấu trúc S LineNâng mũi Hàn Quốc bọc sụnchậm kinh nguyệt ,Bệnh viện thẩm mỹphẫu thuật hàm mómcách làm đẹp da mặtthẩm mỹ viện uy tíntiếng anh a2thuốc liền sẹo tốt nhấtlikewatch.com - Đồng hồ tự động,bệnh đái tháo đường, thi bằng lái xe máy, tour du lich thai lan , Chung cư 378 Minh Khai, ca phe nguyen chat, du lich singapore, du lich thai lan gia re, dich vu lam visatăng like ảnh facebookflamingo forest in the sky,hàng nhật xách tay, du lịch thái lan 2017, stud 100, Đại học Duy Tân, du lịch, ket qua.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây