Bia Đá “Hạ Vũ Trị Thủy” và tín ngưỡng thờ Đá trong sản xuất Nông Nghiệp

Thứ hai - 17/02/2014 14:16
Bia đá “Hạ Vũ trị thuỷ”... Bia đá được phát hiện tại cánh đồng Nhu/Du Lý của làng Ba Thung, (xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ). Bia đá có hình khối dạng tròn, phình ở phần trên và nhỏ dần về phía chân. Ở mặt trước của trán bia có trang trí hình mặt nguyệt và dây lá, bên dưới hoạ tiết trang trí khắc bốn chữ Hán “Hạ Vũ trị thuỷ” theo lối chân thư chạy dọc theo thân bia.

Theo nhân dân làng Ba Thung cho biết: nguyên xưa cánh đồng Nhu Lý vốn là một khu đồi với nhiều cay cối rậm rạp, người dân Ba Thung không canh tác ở đây, và khi có một nhóm người từ làng Nhu Lý (Triệu Phong) đến đây thì làng Ba Thung đã nhượng lại khu đất này để họ khai phá, nhưng do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, việc canh tác không mang lại kết quả nên nhóm người của làng Nhu Lý cũng phải trả lại phần đất này cho làng Ba Thung và cùng chính từ thời điểm đó nhân dân làng Ba Thung gọi khu đất này là cánh đồng (hay xứ) Nhu Lý.

Cánh đồng Nhu/Du Lý của làng Ba Thung vốn là một khu đất cao không có nguồn nước để phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (nhất là nông nghiệp trồng lúa nước). Chính vì điều đó, người dân đã dựng bia đá này với mong ước có nước phục vụ cho việc trong trọt và họ đã lấy phiến đá - một vật thiêng thông giữa trời và đất để dựng lên ở vùng đất này.

Bia đá “Hạ Vũ trị thuỷ” được dựng theo truyền thuyết vua Đại Vũ nhà Hạ (Trung quốc), ông trị vì đất nước từ năm (2205 - 2198) trước Công nguyên, là vị vua hiền tài và rất giỏi việc trị thuỷ, ông có công đào vét, ngăn sông, giúp nhân dân tưới tiêu và phòng chống lũ lụt.

Bia đá được người Việt dựng lên tại xứ đất Nhu Lý - làng Ba Thung - xã Cam Tuyền, với hai mục đích: trấn yểm và định mốc giới của làng mình với những làng xung quanh và đây cũng là phiến đá thần đã được vị thần linh là vua Hạ Vũ chứng giám để cầu mưa thuận gió hoà mùa màng tươi tốt, bội thu đến với người dân trong làng.

... Và tín ngưỡng thờ đá trong sản xuất nông nghiệp.

Thờ Đá là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian sớm nhất xuất hiện ở Việt Nam và tham gia vào nhiều các hình thức thờ phụng khác của người Việt. Ở Việt Nam, thờ Đá cũng đã biến đổi và được kết nạp vào những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác như: tín ngưỡng nông nghiệp, Phật giáo, Bàlamôn…

Đặc điểm cơ bản của đá là cứng rắn và con người có thể lợi dụng, tạo ra hiệu quả trong lao động. Từ đó, con người thấy rằng mình có thể dựa vào tính cứng rắn của đá. Tính cứng rắn được hiểu là có một vị thần ở trong đá tạo ra. Vị thần Đá phản ánh nhận thức của con người về sự vật luôn có tính hai mặt là vật chất và linh hồn. Trong đó linh hồn mới là cái bất diệt, và chính nó tạo ra sự cứng rắn của đá. Cho nên, đối với người xưa, các công cụ bằng đá không chỉ đơn thuần là công cụ lao động, mà chúng còn có ý nghĩa ma thuật. Những công cụ bằng đá mà họ luôn mang bên mình là vật để trừ tà, để tránh ma quỷ không làm hại.

Mặt khác, đá lại là đặc trưng cơ bản của núi (núi đá), mà núi là chốn linh thiêng, là nơi thông linh giữa trời và đất. Cho nên, đá có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác. Con người đã biết dùng đá vào các hành động mang tính chất ma thuật của họ để đạt được mục đích cầu mùa, mưa thuận gió hoà, cây cối tốt tươi và gia đình sung túc… Nhìn chung, mỗi một biểu hiện của tục thờ Đá có một ý nghĩa nhất định.

Ngoài những biểu tượng của nghi lễ phồn thực, các cư dân nông nghiệp cũng có nhiều hình thức tín ngưỡng khác liên quan đến tục thờ Đá. Bởi vì đá là đặc trưng của núi, cho nên nó có thể truyền sinh lực của Trời - Đất với nhau. Người ta lấy đá là biểu tượng để truyền tải niềm tin không lí giải được và lòng mong muốn cha Trời hoà thuận với mẹ Đất để cho sinh lực khí trời đất hoà thuận với nhau, để muôn vật có thể sinh sôi nảy nở.

Chúng ta được biết: tương truyền tại đền Thượng trong khu di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh và đền Thượng trên núi Tản đều có một tảng đá hình vỏ trấu, chiều dài lên tới 2m. Hiện nay, tảng đá đó không còn nữa. Tảng đá thiêng đó là hình thức thờ cúng Mẹ Lúa của cư dân nông nghiệp. Sự tồn tại của tảng đá hình hạt thóc ở hai nơi (núi thiêng) như thế chứng tỏ sự tồn tại của một quan niệm mang tính phổ biến của dân gian. Đó là sự cầu mong mùa màng tươi tốt dựa vào sự thờ cúng vật thiêng.

Đặc biệt đá được sử dụng nhiều trong nghi lễ cúng hồn lúa ở một số dân tộc. Lễ cúng hồn lúa của người Kháng được miêu tả như sau: Người mẹ lúa “mạ lặm” cầm hòn đá thiêng chủ trì buổi lễ. Bà tắm rửa sạch sẽ, ra nương sớm. Bà vơ lấy 9 khóm lúa gần nhau, vít trĩu xuống lòng một chiếc mẹt, chặn hòn đá lên, vừa làm vừa lẩm bẩm: “Hồn lúa nhập vào đây, ở lại đây không được đi đâu”. Bà lại cắt sao cho được 9 cụm để trên mẹt dưới hòn đá thiêng. Lúc về, bà lượm một hòn đá trên nương thay cho “xêng lặm”. Hồn lúa được coi như đã thu vào trong một hòn đá thiêng “xêng lặm”, có tác động làm cho lúa sinh sôi nảy nở, giữ lại được ở trong nương không bay đi và tác dụng đến mùa sau.

Một chức năng vô cùng quan trọng của những hòn đá thiêng với sản xuất nông nghiệp là chúng tham gia vào những hoạt động cầu mưa. Nguyên tắc mô phỏng cũng ngự trị trong ma thuật thời tiết. Nhiều dân tộc sử dụng những hòn đá có nguồn gốc hoặc hình thù kì lạ để thực hành nghi lễ cầu mưa. Đá thiêng thường là vật bất li thân của các thầy cúng, pháp sư. Người ta tin rằng, những hòn đá đó có thể thấu hiểu những lời cầu cúng của các thầy pháp và mang lời khẩn cầu đó đến với các vị thần. Đồng thời, đá cũng thực hiện chức năng truyền những lời phán dạy của thần linh qua thầy pháp tới con người (ví dụ như “túi khót” của thầy Mo Mường, có chứa các hòn đá đặc biệt khi làm lễ; Hay trong “túi thiêng” của các dân tộc vùng Tây Nguyên. Trong đó người ta thường đựng các hòn đá nhặt được ở những vị trí đặc biệt. Trong lễ đâm trâu, túi thiêng đó được rước ra ngoài sân để làm lễ). Truyền thuyết vùng Dâu kể rằng, muốn cầu mưa được linh nghiệm, thì người ta phải rước tượng Tứ Pháp từ bốn chùa đến cạnh nhau và cuối cùng không thể thiếu Thạch Quang Phật. Nếu như Tứ Pháp tượng trưng cho bốn hiện tượng thiên nhiên, liên quan đến mưa, thì Thạch Quang Phật mang ý nghĩa thông linh giữa trời và đất. Cho nên, tượng Thạch Quang Phật tuy nhỏ nhưng lại hết sức quan trọng trong lễ hội và trong tâm thức dân gian. Hay trong nghi lễ cầu đảo ở đền Kì Thạch phu nhân (ở Huế), chỉ khi nào tượng đá được đưa ra gần bờ sông, thì mới linh ứng. Nghi thức cúng tế này cũng mang tính phổ biến trên thế giới.

Những nghi lễ đó bắt nguồn từ quan niệm, đá có liên quan đến nước và đá có khả năng điều khiển mây trên trời; hoặc do hình thù của đá có một độ “đồng cảm” nào đó với mây và sét, hoặc do nguồn gốc của chúng trên trời, hay gắn bó với tổ tiên xưa kia, hoặc những hòn đá này lấy được ở dưới nước có hình dạng cá, ếch, con rắn hoặc giống một biểu hiện thủy ngư nào đó. Hiệu năng của đá cầu mưa không phải ở bản thân nó mà thuộc về một bản nguyên hay một hoá thân của biểu tượng”. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Cường

 Từ khóa: bia đá

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây