Các dòng tranh dân gian Việt Nam

Thứ hai - 27/10/2014 10:06
Tranh dân gian bao gồm tranh thờ cúng và tranh tết truyền thống. Nó chính là trí tuệ và có nguồn gốc rất xa xưa được bảo lưu và phát triển ở các giai đoạn lịch sử của đất nước.
Tranh Đông Hồ - Đánh Ghen
Tranh Đông Hồ - Đánh Ghen

Người Việt với tính ngưỡng thờ tổ tiên và nhân hóa các hiện tượng thiên nhiên thành các vị thành nên cùng với  tranh tết , tranh thờ cũng được phát triển rất sớm. tranh tết và tranh thờ cúng đã trở thành nếp sống văn hóa, là nguồn cội của mỹ thuật dân gian và đồng thời hợp thành văn hóa dân gian đương đại.

Với nhu cầu của tục lệ chơi tranh tết và thờ cúng, tranh dân gian bắt buộc phải có số lượng lớn nên ở nước ta từ lâu đã biết đến kỹ thuật khắc ván để in.Vào thời Lý thế kỷ XII đã có một số gia đình chuyên làm nghề ván khắc, cuối thời Trần đã in được tiền giấy, đến thời Lê sơ lại tiếp thu them kỷ thuật khắc in trên ván của người Trung quốc và có cải tiến thêm một vài bước. Cũng từ đây, trong dòng chảy của mỹ thuật dân gian bắt đầu có sự phân hóa và ngày càng đậm nét hơn.

Các địa bàn làm tranh dân gian trải dài trong cả nước nhưng dựa theo phong cách và kỹ thuật in, vẽ, cùng với nguyên vật liệu chế tác tranh, ta có thể phân loại dòng tranh theo địa danh xuất xứ.

Tranh điệp Đông Hồ ở đồng bằng Bắc Bộ, phục vụ thuần túy cho nông dân. Trên chất liệu giấy dó, nghệ nhân quét lên lớp điệpvới những nét song hành mềm mại và phủ đầy những ánh bạc lấp lánh, lướt thêm một ít hoa hòe màu vàng hay nước gỗ vang đỏ cam, tạo cho khung nền màu sắc rực rỡ sang trọng. Trên nền giấy dó, đôi khi chỉ cần diễn hình bằng nét đen và in thêm một màu đơn sơ cô đọng, phần lớn gam màu được chiết xuất từ chất liệu có sẵn trong thiên nhiên như trắng của võ sò, đen của than lá tre, đỏ của gỗ vang, xanh của lá chàm, vàng của hoa hòe…rồi nhờ kỷ thuật in chồng màu mà tạo nên một số sắc màu khác.

Nội dung của tranh Đông Hồ là những lời chúc tụng và phản ánh những sinh hoạt và quan hệ xã hội ở nông thôn việt nam. Ngày tết nhà nào cũng có vài tờ tranh Đông Hồ, nó làm bứng sáng những căn nhà đơn sơ.

Khác với lối chế tác của tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống chỉ in nét đen rồi sau đó dựa vào đường viền để tô màu, tranh chủ yếu phục vụ thị dân sản xuất và bày bán giữa kinh thành. Tranh đôi khi chỉ được vẽ tay thuần, luôn mạch, ngừng bút là xong, phần lớn in nét rồi tô màu bằng tay và tạo ra nhiều sắc độ khác nhau.

Tranh Hàng Trống dùng giấy và màu nhập ngoại, khổ lớn, sắc độ tươi tắn. nội dung của tranh thường là chung đề tài với tranh đông hồ, song phổ biến là tranh thờ ở các điện, đền…không gian của tranh thoáng đãng, hoặc linh thiêng huyền ảo.

  

Tranh Hàng Trống – Tố nữ ( Tứ bình)

Tranh Làng Sình thuộc xã Phú Mậu huyện Phú vang  thành phố Huế, đều là tranh thờ theo tính ngưỡng cổ sơ, lưu ảnh của tư tưởng việt cổ trươc một thiên nhiên thần bí và linh dị được nhân hóa thành những vị thần. Tranh Làng Sình chỉ có một ván in nét lấy hình và các mảng đen, in đen xong là hoàn tất, đôi khi điểm xuyết vài vệt màu, đôi khi để nguyên màu giấy gốc.Tranh chỉ phục vụ duy nhất là thờ cúng, cúng xong là đốt, đây cũng là điều khác biệt với hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống.

Tranh Làng Sình - Thiếu nữ Phú Xuân ( thế kỷ XVIII)

Mỗi dòng tranh có mỗi phong cách riêng, không phụ thuộc vào viễn cận một điểm nhìn mà được diễn tả theo lối quan sát di động với nhiều gốc độ khác nhau, với lối tư duy thần thánh được vẽ to ở giữa trung gian, còn người bình thường thì nhỏ đều nhau…

Trong giao lưu văn hóa, tranh dân gian Việt Nam phát triển với những tinh hoa sẵn có bởi sự tích tụ qua các thời kỳ, vừa tiếp nhận những gì thích hợp của cac dòng tranh khác trong khu vực để rồi khẳng định những gì thích hợp mà dân tộc hóa, làm phong phú hơn bản sắc của mình. 

Bài; ảnh: Trương Phương Nhi

 Từ khóa: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây