Đồng bào Pa Kô và thiết chế tự quản hiệu quả

Thứ tư - 24/02/2016 10:03
Luật tục là kho tàng tri thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng. Luật tục của đồng bào Pa Kô ở huyện Đakrông (Quảng Trị) được bảo tồn dưới dạng truyền miệng, chứa đựng nhiều tri thức phong phú được định hình và trở thành nguyên tắc sống, bao gồm nhiều lĩnh vực đời sống con người, đồng thời là cơ sở có tính pháp lý cho thiết chế tự quản.
Bản làng vào hội - Ảnh: PHƯƠNG HOAN
Bản làng vào hội - Ảnh: PHƯƠNG HOAN

Từ xa xưa, mỗi bản làng của người Pa Kô là một chỉnh thể thống nhất về môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm linh. Các bản làng đều có ranh giới đất rừng và chủ quyền rừng trên lãnh thổ. Trong bản làng, tồn tại nhiều lớp người như: người giàu có, người đủ ăn và người nghèo. Tuy nhiên, quan hệ về kinh tế, xã hội giữa các tầng lớp xã hội là quan hệ bình đẳng, tương thân, tương ái, no đói, giàu, nghèo, buồn vui có nhau trong cộng đồng. 

Thích ứng với trình độ phát triển xã hội đó là thiết thế tự quản bản làng vận hành theo quy định luật tục và thông lệ của cộng đồng. Mỗi bản làng của người Pa Kô có một người uy tín đứng đầu gọi là già làng, làm nhiệm vụ quản lý và điều hành các công việc liên quan đến đời sống mọi mặt của cộng đồng như: xử kiện, chỉ huy làng bản, săn bắt, hái lượm, trồng trọt, làm nương rẫy, cúng bái. Già làng điều hành hoạt động của bản làng bằng pháp luật và dựa vào các điều khoản quy định trong luật tục, được truyền khẩu từ đời này sang đời khác. 

Thiết chế tự quản của bản làng có thể coi là giá trị văn hóa xã hội, đồng thời là văn hóa ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng. Đó là bộ máy đơn giản, nhưng hoạt động hiệu quả và chi phối tất cả các khía cạnh sinh hoạt của bản làng. 

Luật tục người Pa Kô rất xem trọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộng đồng và tín ngưỡng. Nội dung luật tục người Pa Kô liên quan đến con người và thiên nhiên, con người với môi trường sống, quan hệ giữa con người với con người, quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ con người với thế giới thần linh. Nội dung của luật tục mang ý nghĩa giáo dục, khuyên răn và ràng buộc con người sống có đạo lý, tôn trọng cộng đồng, bảo vệ và duy trì thuần phong mỹ tục của cộng đồng, đề cao giá trị, vai trò thủ lĩnh của cộng đồng. Điều đó khẳng định vai trò, vị thế và trách nhiệm của những người có uy tín trong cộng đồng. 

Ngoài chức năng duy trì xã hội, luật tục của người Pa Kô chứa đựng nhiều giá trị lịch sử xã hội tộc người, giá trị văn hóa tộc người, giá trị tri thức dân gian tộc người. Thông qua luật tục chúng ta có thể nhận thấy các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội đến các mối quan hệ cộng đồng, thiết chế dòng họ, hôn nhân, gia đình, phong tục tập quán, lễ hội, hình thái canh tác lúa rẫy,… 

Người Pa Kô sinh sống dưới mái nhà dài với nhiều thế hệ. Có bao nhiêu bếp lửa là có bấy nhiêu gia đình nhỏ trong ngôi nhà dài, trừ bếp lửa chung của đại gia đình “Moong”. Làng bao giờ cũng chọn vị trí thuận lợi cho đời sống và phương thức canh tác. Do vậy, đời sống người dân ổn định hơn, việc du cư ít xảy ra, chỉ trừ trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh chết người, cạn kiệt nguồn nước hoặc chiến tranh... Họ làm rẫy bằng cách đốt một khoảng rừng và trĩa lúa, trồng ngô, bầu, bí, ớt, đu đủ, rau..., chất mùn do lá rụng lâu năm và chất tro đốt có tác dụng phân bón. Một khoảng đất canh tác như vậy, vài ba năm là bạc màu, người ta chuyển sang canh tác mảnh rừng khác. Kỹ thuật chặt, đốt cây rừng làm rẫy được quy định rất chặt chẽ trong luật tục, không hề lãng phí và hạn chế xảy ra cháy rừng... Mỗi hộ gia đình trong bản có từ 10 đến 15 tấm rẫy. Khi đã khai thác đến rẫy thứ 10 hay thứ 15, quay lại rẫy đầu tiên thì rẫy đầu tiên đã là 20 năm đủ cho thời gian rừng tái sinh. Đây là phương thức mưu sinh từ rừng đã đúc kết qua thực tế cuộc sống, nhưng đã trở nên lạc hậu vì cần nhiều vốn rừng và đất rừng. 

Người Pa Kô nói riêng và đồng bào thiểu số nói chung sinh kế chủ yếu dựa vào rừng. Những năm gần đây dân số tăng nhanh, lượng người di cư từ nơi khác đến, sự khai khoáng trên các dòng sông, khe suối, xây dựng thủy điện, nạn phá rừng... đã làm cho vốn rừng cạn kiệt. Những phong tục tập quán liên quan đến rừng cũng dần dần biến đổi, tín ngưỡng niềm tin vào thần linh, Yàng đã dần dần mai một. Khi niềm tin tín ngưỡng bản địa biến đổi, sẽ tạo cơ hội cho các tín ngưỡng ngoại lai xâm nhập, văn hóa của tộc người sẽ có biến động. 

Thiết nghĩ, ngoài việc quản lý cộng đồng bằng quy định pháp luật, nên lưu ý tuyên truyền số luật tục văn minh, phù hợp với phong tục tập quán để duy trì an ninh trật tự trong cộng đồng. Vận dụng linh hoạt những tập tục truyền thống, những quy định luật tục truyền thống về ứng xử và quản lý cộng đồng khi giải quyết và xử lý vụ việc đối với dân cư là dân tộc thiểu số nói chung thì hiệu quả và sự thuyết phục chắc chắn sẽ mang lại cao hơn. 

Nguồn tin: baoquangtri.vn

 Từ khóa: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây