Khai thác các giá trị Văn hóa để phát triển Du lịch các quốc gia trên hành lang kinh tế Đông - Tây

Thứ hai - 13/01/2014 20:19
Các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông - Tây gồm: Myanmar, Lào, Thái Lan và Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, là một trong những cái nôi hình thành nên nền văn minh nhân loại. Tại các miền đất này nhiều sắc thái văn hóa đặc sắc, độc đáo đã hình thành và phát triển. Đặc điểm chung nhất quyết định điểm tương đồng về văn hóa của các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây là sự giống nhau về hình thức canh tác: Gieo trồng lúa nước. Từ hoạt động canh tác đặc thù này mà cư dân ở các nước trong khu vực sinh sống chủ yếu theo hình thức quần cư, tụ cư. Hoàn cảnh sinh sống và điều kiện làm việc này đã nảy sinh mối quan hệ cố kết bền chặt trong cộng đồng: Từ quan hệ gia tộc đến quan hệ trong làng bản, buôn sóc... Đây là đặc điểm nổi bật nhất và cũng là sự tương đồng lớn nhất về văn hóa của các nước trên Hành lang kinh tế Đông –Tây.

Các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông – Tây đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa. Trong đó văn hóa Phật giáo và các quan niệm như triết lý nhân quả, luân hồi, nghiệp báo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh và quan hệ xã hội. Trong quá khứ, hầu hết các dân tộc các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây chịu sự đô hộ của nước ngoài nên có khát vọng được chung sống trong hòa bình, trân trọng sự hòa hiếu, tha thiết vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc, giữa các cộng đồng dân cư và các tộc người.

Như vậy, từ sự cộng hưởng về văn hóa, lịch sử, tôn giáo và tín ngưỡng của các quốc gia Hành lang kinh tế Đông -Tây cộng thêm sự đồng dạng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó gieo trồng lúa nước là hình thức canh tác chủ đạo mà các dân tộc của các quốc gia trong tiểu vùng đều có những mẫu số chung rất căn bản về phong tục, tập quán, cách ứng xử, cách tư duy...

Myanmar được biết đến như là Miền Đất Vàng (Golden Earth) gồm có 135 dân tộc có tiếng nói và chữ viết riêng, trong đó dân tộc Bamar chiếm 70% dân số. Myanma là đất nước của Phật giáo với hơn 80% dân số theo Phật giáo Tiểu thừa (Theravada Buddism). Vì thế, nhiều công trình đền, chùa đã được xây dựng như: chùa Chauk Htat Gyi, nổi tiếng với bức tượng phật nằm khổng lồ dài 72m, cao 16m; Chùa Shwezigon được vua Anwrahta xây dựng ở thế kỷ 11 để cất giữ xá lợi Phật,... Nổi tiếng nhất là Shwedagon, ngôi chùa được coi là niềm kiêu hãnh của Myanmar. Chùa dát 80 tấn vàng nên được gọi là chùa Vàng. Cảm giác tráng lệ như cổ tích là ấn tượng của hầu hết du khách khi đến thăm nơi đây. Trong các làng Myanma truyền thống, chùa chiền là trung tâm của đời sống văn hóa. Lễ hội quan trọng nhất là lễ chùa. Myanma còn được biết đến là xứ sở của các đồ trang sức bằng vàng, bạc, đá quý, tranh ảnh nghệ thuật, đồ thủ công mỹ nghệ, sơn mài, tơ tằm Mandalay... Nghệ thuật dân gian với các tiết mục múa rối và những bức tranh thần bí cũng góp phần làm xao xuyến du khách nước ngoài.

Thái Lan cũng là một quốc gia đa dân tộc. Khoảng 75% dân số là dân tộc Thái, 14% là người gốc Hoa và 3% là người Malay, phần còn lại là những nhóm dân tộc thiểu số. Phật giáo Thượng tọa bộ được coi là quốc giáo ở Thái Lan với tỉ lệ người theo đạo là 94,7%, tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới. Là một nước theo đạo Phật, Thái Lan cử hành những ngày kỷ niệm quan trọng với những nghi lễ đem lại cho các tín đồ Phật giáo khắp đất nước một cơ hội để họ đóng góp phần công đức, với những phẩm vật cúng cho các nhà sư và những đám rước đèn cầy vào ban đêm như: Lễ Magha Puja vào tháng 2 kỷ niệm ngày 1250 tín đồ tập hợp lại để nghe đức Phật thuyết pháp; Lễ Visaka Puja vào tháng 5 kỷ niệm ngày Phật Đản, ngày Phật Giác Ngộ và ngày Đức Phật Nhập Niết Bàn; Lễ Khao Phansa vào tháng 7 để tuyên bố bắt đầu mùa An cư của Phật tư, cũng là ngày chấm dứt gió mùa hàng năm. Mùa An cư sẽ chấm dứt ba tháng sau với kỳ Kathin, là lúc dân chúng dâng tặng áo cà sa mới cho các nhà sư; Lễ Luang Wiang Lakon ở Lampang trong tháng 2, một lễ rước tượng Phật rất trang nghiêm với sự tham gia của cựu Hoàng tộc Chiang Mai,... Ngoài ra, còn có các lễ hội khác như: Lễ hội Hoàng Gia, Lễ hội tên lửa Yasothon, Lễ hội Phi Ta Khon, lễ hội đua thuyền Phichit, Lễ hội Chak Phrra, Lễ hội đua trâu ở Chonburi, Lễ hội lâu đài Sáp ở Sakhon Nakhon, lễ hội đua thuyền Lanna, Lễ hội hoa ở Chiang Mai,...

Lào là nơi cư trú của hơn 80 dân tộc anh em, được chia thành 04 nhóm ngữ hệ: Lào – Thái, Môn – Khơme, Mèo – Dao, Tạng – Miến. Ngoài dân tộc Lào Lum chiếm đa số, mỗi dân tộc Lào đều có những bản sắc văn hóa riêng, tạo nên một kho tàng văn hóa đa dạng, phong phú vô giá. Hiện nay trên lãnh thổ Lào còn lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử văn hóa có giá trị du lịch, tiêu biểu như: Tháp Thạt Luông, Chùa Xi Mường, Vạt Xa Kệt, Đen Pha Kẹo, Vạt Xiêng Khuan, Cổng tượng chiến thắng, Tường thành cổ thủ đô Viêng Chăn, khu vườn các dân tộc Lào ( Ở Viên Chăn); Tháp Chỏm Xỉ, Chùa Vi Xun, Vạt Xiêng Thoong, Hoàng cung cũ ( Ở Luông Pha Bang); Cánh đồng chum (Xiêng Khoang); Các trụ đá, Tháp Ing Hăng, Chùa Xaynhaphum, Cung điện Hươu Hỉn ( ở Savannakhet); Chùa Vạt Phu, Bản Xa Phai (ở Champasac),...Lào cũng được mệnh danh là xứ sở của Lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có đến 04 lần Tết: Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán ( Như ở một số nước Á Đông), tết Lào ( Bun Pi May vào tháng 4) và Tết H mong (tháng 12). Các lễ hội có thể kế đến là: Bun Pha Vet (Phật hóa thân) vào tháng 1; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun Bang Phay (Pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao Phan Sa (Mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao Padapdin (Tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (Đua thuyền) vào tháng 10...

Việt Namnằm trên đường thiên di của các luồng văn hoá từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây. Trải qua 4000 năm văn hiến đã hình thành nên nhiều sắc thái văn hoá độc đáo. Có thể nói rằng Việt Nam là đất nước của những lễ hội. Mỗi lễ hội mang nét văn hóa và giá trị riêng ghi nhớ công lao của các bậc tiền nhân khai hoang, lập ấp; Những vị anh hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn Tổ quốc; Những lễ hội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Các lễ hội tri ân công lao những vị anh hùng dân tộc đánh giặc bảo vệ đất nước; Các bậc tiền nhân khai hoang lập ấp và biểu dương tinh thần thượng võ của dân tộc như: Lễ hội gò Ðống Ða, Hội đền Hai Bà Trưng,Hội đền Kiếp Bạc, Hội Chọi trâu tại Đồ Sơn.....Nổi bật nhất là Lễ hội Đền Hùng mang tính chất quốc gia để suy tôn các vua Hùng đã có công dựng nước. Các lễ hội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, biển rừng tươi tốt, mùa mang bội thu như: Lễ hội Cầu Ngư; Lễ hội Cá Ông; Lễ hội đình Thần Thắng Tam... Trong quá trình tiếp biến văn hóa, nhiều lễ hội văn hóa mới được hình thành càng làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa dân tộc: Festival Hoa Đà Lạt; Festival Huế;  Festival Biển Nha Trang, Festival biển Hạ Long; Festival bắn pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng … Đặc biệt các tỉnh, thành phố có nhiều sáng tạo trong việc tổ chức các Lễ hội mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, tiêu biểu là : “Lễ hội thống nhất Non sông”, Lễ hội “Nhịp cầu Xuyên Á” tại Quảng Trị…

Văn hóa Việt Nam mang đậm tính chất văn hóa Làng. Về với làng Việt, du khách cũng được dịp tìm hiểu kỹ thuật sản xuất các mặt hàng thủ công, thỏa sức mua sắm những sản vật của địa phương như gốm Bát Tràng, Tranh Đông Hồ, Tranh Hàng Trống, Lụa Hà Đông… Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo với 54 tộc người anh em. Mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa riêng. Đến với các tộc người thiểu số du khách sẽ được trở về với không gian văn hóa còn lưu giữ nét hoang sơ của thưở hồng hoang; được chiêm ngưỡng kiến trúc xây dựng độc đáo như Nhà Sàn, Nhà Dài, được nghe tiếng hát Then, tiếng khèn, tiếng đàn Tơ Nưng mang âm hưởng của núi rừng, những điệu múa Xòe, múa Sạp đắm say cùng những nghi lễ đậm chất huyền bí.... Các tôn giáo Việt Nam có những nét văn hóa - tâm linh khá độc đáo. Nổi bật nhất là  Lễ Phật Đản của Phật Giáo và Kiệu La Vang (Quảng Trị) của Thiên Chúa Giáo...

Truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã hình thành nên hệ thống di tích lịch sử văn hóa, di tích chiến tranh cách mạng dày đặc. Đó là Thành Cổ Loa, Trận địa cộc trên sông Bạch Đằng, Đình Hồng Thái - Cây đa Tân Trào, Núi Các Mác, Suối Lê Nin, Điện Biên Phủ, Ngã ba Đồng Lộc, cầu Hiền Lương - sông Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc, Tà Cơn, Khe Sanh - Đường 9, Thành Cổ Quảng Trị, Địa đạo Củ Chi, Dinh Độc Lập, Đường mòn Hồ Chí Minh… Mỗi địa danh, mỗi di tích mà mỗi lần nhắc đến đều gây được sự xúc động và niềm tự hào mạnh mẽ. Đặc biệt, Việt Nam đang sở hữu nhiều Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá của nhân loại. Đó là Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Hệ thống quần thể kiến trúc Cố đô Huế, Hoàng Thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ, Nhã nhạc Cung đình Huế, Mộc bản Triều Nguyễn, Bia Tiến Sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, Ca trù, dân ca quan họ Bắc Ninh, hát Xoan... đã trở thành “thương hiệu mạnh” để quảng bá và thu hút khách du lịch quốc tế.

Các giá trị văn hóa đã trở thành nền tảng tinh thần và động lực để các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây xây dựng và phát triển đất nước. Đối với hoạt động du lịch, văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định cho sự hình thành sản phẩm du lịch. Tuy vậy, để khai thác đưa văn hóa trở thành sản phẩm du lịch là điều không hề đơn giản. Văn hóa là pho tư liệu chứa đựng các giá trị lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng, các thành tựu văn hóa của dân tộc, của các cộng đồng dân cư, còn sản phẩm văn hóa là những giá trị văn hóa đã được quy hoạch, thiết kế, quảng bá để khai thác hoạt động du lịch. Những năm qua, cùng với các sản phẩm du lịch khác, du lịch văn hóa đã trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du khách đến với các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây, nhiều tour Du lịch hấp dẫn đã được hình thành như: “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”, “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”, “Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội,”, “Một ngày ăn cơm ba nước”, du lịch Caravan,…

Tuy nhiên, sản phẩm du lịch ở các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây  còn đơn điệu, nhiều sản phẩm na ná giống nhau, chưa tạo được thương hiệu mạnh mang tầm toàn cầu; giữa các quốc gia, các vùng miền, các công ty du lịch còn hoạt động riêng lẻ, chưa tạo được sự liên kết, tiếng nói chung trong hoạt động du lịch,… Chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm “Khai thác các giá trị văn hóa để phát triển Du lịch các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông -Tây":

1. Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác và bảo vệ các giá trị văn hóa. Mối quan hệ biện chứng của du lịch và văn hóa là mối quan hệ tương tác, phối hợp, bổ trợ lẫn nhau. Văn hóa là tác nhân quan trọng cho phát triển du lịch và ngược lại, phát triển du lịch là tạo điều kiện để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Điều đó có nghĩa là trong quá trình khai thác các giá trị văn hóa phục vụ mục đích du lịch cần phải hết sức chú trọng công tác bảo tồn các giá trị văn hóa, tránh các tác động tiêu cực làm cho văn hóa bị mai một, biến dạng so với nguyên bản, bị thương mại hóa. Đồng thời, có kế hoạch đầu tư trở lại để bảo tồn và phát triển văn hóa, làm cho văn hóa được phát triển và thăng hoa.

Thông thường sau mỗi chuyến tham quan, nghỉ dưỡng, văn hóa sẽ là dấu ấn khó phai, để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng du khách. Với lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, mỗi quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông-Tây đều có truyền thống, bản sắc văn hóa riêng, do đó cần xây dựng sản phẩm, dịch vụ du lịch độc đáo mang đậm dấu ấn văn hóa, truyền thống và tính đặc thù khác biệt của từng nước, từng vùng miền, tránh tình trạng bắt chước, làm theo hời hợt và hình thức, không gây ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách. Phải bằng mọi cách cố gắng tạo ra được các sản phẩm du lịch văn hóa đủ sức cạnh tranh với các điểm du lịch khác.

2. Nghiên cứu, lồng ghép các tour du lịch văn hóa hiện có của mỗi nước, mỗi vùng miền trong các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây để trở thành những tour du lịch chung của khu vực trên nguyên tắc tôn trọng định hướng du lịch quốc gia của mỗi nước, song có sự điều chỉnh nhằm hạn chế sự trùng lặp về sản phẩm dulịch; Khai thác có hiệu quả nhất những giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi quốc gia trong vùng. Căn cứ vào những đặc điểm chung về văn hóa của các nước trên Hành lang kinh tế Đông - Tây để tạo dựng thương hiệu mạnh về du lịch văn hóa đủ sức cạnh tranh với các khu vực khác trên thế giới. Có thể căn cứ vào giá trị của các Di sản văn hóa của nhân loại để xây dựng tour du lịch khám phá di sản các nước trong vùng hoặc căn cứ vào sự phổ biến của đạo Phật ở các nước trong khu vực, xây dựng các tour du lịch hành hương dành riêng cho các tín đồ Phật tử…

3. Cần kết hợp du lịch văn hóa với du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mua sắm. Không ngừng sáng tạo đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa nhằm tạo thêm nhiều sự chọn lựa cho du khách, đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của các loại khách. Đoạn tuyệt với cách làm tour đơn giản, chuyên biệt, độc lập, khô cứng; cần sáng tạo và linh hoạt trong tổ chức tour du lịch văn hóa, sự kết hợp khai thác các sản phẩm du lịch đặc sắc và có tính đặc thù của từng vùng miền, từng quốc gia. Rất nhiều cách kết hợp du lịch văn hóa với các sản phẩm du lịch khác. Có thể kết hợp du lịch lễ hội với du lịch tâm linh - tín ngưỡng; Du lịch khám phá di sản văn hóa, kết hợp du lịch hoài niệm, hồi tưởng; Du lịch văn hóa gắn với du lịch thể thao, nghỉ dưỡng biển, ẩm thực; Du lịch khám phá các di tích chiến tranh, di tích lịch sử kết hợp du lịch sinh thái, mua sắm…

4. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, liên kết để phát triển là xu thế tất yếu. Vì vậy, cần tăng cường liên kết cơ quan quản lý du lịch quốc gia, các cơ quan xúc tiến du lịch, các Công ty lữ hành các nước trên Hành lang kinh tế Đông -Tây trong hoạt động khai thác du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng nhằm xây dựng chiến lược phát triển du lịch, tạo sự ổn định của hệ thống dịch vụ sử dụng, mức giá cạnh tranh với các điểm đến khác; liên tục có sự phối hợp trong vấn đề tạo ra sản phẩm chung cũng như việc nghiên cứu đổi mới sản phẩm văn hóa - du lịch. Mọi cố gắng đều hướng đến việc tạo ra các nhóm Công ty liên kết nhằm tổ chức khai thác một cách chuyên nghiệp, tạo sức mạnh chung cho khai thác khách du lịch văn hóa. Từng bước xúc tiến hình thành Hiệp hội Du lịch các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông -Tây.

5. Cùng với tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN với các trụ cột chủ yếu, trong đó trụ cột văn hóa có ý nghĩa giao thoa và tiếp biến mạnh mẽ. Các quốc gia trong vùng cần xây dựng và triển khai chiến lược quảng bá tuyên truyền hình ảnh đất nước, con người truyền thống văn hóa và tiềm năng du lịch của mình một cách sâu rộng trên phạm vi quốc tế. Theo đó, các địa phương, nhất là các quốc gia trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, tích cực tuyên truyền, quảng bá văn hóa đặc sắc và thế mạnh về du lịch của mình, quảng bá những nét tương đồng văn hóa đặc sắc và tiềm năng du lịch của các quốc gia khác trong vùng, tạo ra sức mạnh chung, có sức lan tỏa mạnh mẽ thu hút du khách khát khao khám phá. Đi đôi với quảng bá, tuyên truyền cần tăng cường nghiên cứu xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đi lại trên địa bàn các nước Hành lang kinh tế Đông -Tây. Giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính rườm rà, lệ phí nhiêu khê, áp dụng công nghệ tiên tiến kiểm soát tại cửa khẩu quốc tế đường bộ, sân bay, hải cảng. Trước hết là các quốc gia trên hành lang kinh tế Đông – Tây.  Đây là điểm mấu chốt cơ bản tạo ra không gian văn hóa – du lịch thông thoáng để du khách được thỏa sức tham quan, khám phá các nét đẹp văn hóa của các nước trong khu vực.

6. Vănhóa do nhân dân sáng tạo ra nên văn hóa là của nhân dân. Vì vậy, các địa phương các nước trong khu vực cần có những chính sách, những giải pháp tạo điều kiện để nhân dân được trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa nhằm tạo ra môi trường du lịch - văn hóa cộng đồng phát triển bền vững. Cần tạo cơ chế phù hợp để khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo của mình. Đồng thời khai thác hiệu quả giá trị văn hóa truyền thống mỗi tộc người, mỗi cộng đồng để phát triển du lịch đem lại lợi ích chung, trong đó họ được quyền chia sẽ lợi ích một cách thỏa đáng. Đó chính là cơ sở, là lý do để từng tộc người, cộng đồng dân cư yêu mến, trân trọng giữ gìn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của mình phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, trong đó phát triển du lịch là hướng mở chủ đạo.

Khai thác giá trị văn hóa để phát triển du lịch là một hướng đi đúng trong hoạt động du lịch cũng như trong công tác bảo tồn, tôn tạo, xây dựng và phát triển văn hóa. Song để đạt được hiệu quả cao, đòi hỏi phải tiếp cận vấn đề một cách tổng thể và phải được nghiên cứu bài bản, khoa học. Đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành liên quan cũng như sự tham gia đông đảo, tích cực từ phía cộng đồng các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông - Tây./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Dùng

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 2 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

niềng răngniềng răng không mắc cài, ,giày nam công sở, Phẫu thuật hàm hôNâng mũi bọc sụnbấm mí hàn quốcTour du lịch miền tây,Nâng mũi cấu trúc S LineNâng mũi Hàn Quốc bọc sụnchậm kinh nguyệt ,Bệnh viện thẩm mỹphẫu thuật hàm mómcách làm đẹp da mặtthẩm mỹ viện uy tíntiếng anh a2thuốc liền sẹo tốt nhấtlikewatch.com - Đồng hồ tự động,bệnh đái tháo đường, thi bằng lái xe máy, tour du lich thai lan , Chung cư 378 Minh Khai, ca phe nguyen chat, du lich singapore, du lich thai lan gia re, dich vu lam visatăng like ảnh facebookflamingo forest in the sky,hàng nhật xách tay, du lịch thái lan 2017, stud 100, Đại học Duy Tân, du lịch, ket qua.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây