Những nét đẹp trong lễ Tết của người Việt

Thứ hai - 09/02/2015 20:33
Như thường lệ cứ mỗi độ Xuân về Tết đến, khi con người đã tạm khép lại những vất vã lo âu của cuộc sống đời thường sau một thời gian lao động mệt nhọc của chu kỳ thời gian năm, người dân các làng quê Việt Nam lại háo hức trong không khí đón Xuân.

Lế Tết Nguyên Đán hay còn gọi là “Tết Cả” là lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Nó mang tính thống nhất, tính cộng đồng xã hội, thẩm mỹ cao…Tết là điểm xuất phát thiêng liêng, của ngày mới, năm mới, là dịp con người hướng tới mỹ tục: lịch sự, cao thượng, nhân ái với những lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Đồng thời Tết cũng là dịp gia đình, họ hàng làng xóm, người thân xa gần sum họp đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà, tiên.

“Tết Nguyên Đán” là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần lễ cũng như phần hội đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc. Việc ông cha ta  xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo Âm lịch làm ngày hội lớn của một chu kỳ vận hành của vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật). Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chử Đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới.

1. Trước Tết ngày 23 Tháng Chạp:Tuy lễ Tết bắt đầu từ ngày Mồng một tháng giêng (Âm lịch) nhưng người dân Việt Nam đã chuẩn bị đón Tết từ trước đó gần nữa tháng. Việc đầu tiên là bà con cố gắng làm sao cho hoàn tất sớm công việc đồng áng vụ Đông Xuân để đến ngày đưa ông Táo về trời là đã xông công việc năm cũ, gác việc cày bừa, để mấy ngày Tết không còn bận tâm gì đến công việc đồng áng nữa. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy không khí chuẫn bị Tết nhộn nhịp, khẩn trương, từ miệc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân từ nơi xa về….

Theo tục lệ, ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tấu việc trần gian. Đây là tín hiệu phát đi mọi nhà chuẩn bị đón Tết. Theo nhân dân, ông Táo còn được gọi “Ông Núc Bếp”, “Ông đầu rau”,  mà dân gian lưu truyền về sự tích Ông đầu rau hay “sự tích hai ông một bà”. Chuyện cũ kể rằng: Xưa có hai vợ chồng vì nghèo quá phải bỏ nhau mỗi người một nẻo đi khất thực kiếm sống. Sau người vợ lấy được chồng giàu, một hôm đang đốt vàng mã ngoài sân thì thấy một kẻ ăn xin. Người vợ nhận ra người ăn xin ấy ngày xưa là chồng của mình, thương cảm, bèn đem cho rất nhiều gạo thóc, tiền bạc. Người chồng mới nghi ngờ vợ, vợ ức quá đâm đầu vào bếp chết. Thương vợ cũ, người ăn xin lao vào bếp chết theo. Ân hận và đau khổ, người chồng mới cũng nhảy vào bếp lửa chết nốt. Thượng đế nghe chuyên, thương cảm ba con người có ngĩa kia, bèn phong họ làm “vua bếp”. Ca dao cổ có câu: Thế gian được vợ mất chồng,/ chẳng như vua bếp hai ông một bà.

2.Trồng cây nêu: Chiều 30 Tết trước cửa nhà nào cũng trồng một cây nêu đã được chuẩn bị từ trước.Cây nêu có nhiều loại được làm từ những vật khác nhau tùy thuộc vào phong tục của mỗi vùng miền.

Chòm lá chừa lại trên cùng treo cái giỏ trong đó có trầu, cau, tiền  cúng tổ. Dưới chân cây nêu dùng vôi vẽ cánh cung và mũi tên để trừ tà ma.

Việc trồng cây nêu vào ngày Tết có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đó là tượng trưng cho mong muốn bảo vệ con người khỏi ma quỷ – ma quỷ tượng trưng cho những điều không may mắn, sự rủi ro. Mỗi một vật được gắn trên cây nêu cũng đều mang ý nghĩa riêng của nó. Ngày mồng 7 tết mới hạ nêu.

Mặc dù cây nêu là một biểu tượng ngày Tết từ lâu đời chỉ có ở Việt Nam, nó mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc nhưng hiện nay nét văn hóa này đang dần bị mai một, chỉ còn tồn tại ở một số vùng quê nông thôn.

3.Lễ giao thừa: Theo quan niệm của người xưa, lẽ trời đất có khởi thủy ắt phải có tận cùng. Một năm cũng vậy đã có bắt đầu thì cũng có tất niên. Bắt đầu một năm mới từ lúc giao thừa và kết thúc một năm cũng vào lúc giao thừa.

Theo cụ Đào Duy Anh giao thừa có nghĩa là: Cũ giao lại, mới tiếp lấy (Từ điển Hán-Việt). Giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất của một năm, là ranh giới giữa cái cũ kỹ và cái mới mẻ, giữa vận hạn và may mắn. Đây là thời khắc giữa giờ Hợi của ngày cuối cùng tháng Chạp (Âm Lịch) của năm trước và giờ Tý của ngày đầu tiên trong tháng Giêng năm sau. Vào thời điểm này người Việt ta từ lâu đã tổ chức lễ trừ tịch. Ý nghĩa của nó là đem bỏ lại những điều rủi ro, xấu, gở, cũ kỹ của năm cũ để đón những cái mới mẽ, may mắn và tốt lành của năm mới. Lễ này còn được gọi là lễ giao thừa. Tuy nhiên tên gọi có khác nhau giữa các địa phương nhưng ở đâu đó cũng bao hàm một ý nghĩa trọng đâị, một điều thiêng liêng, đó là thời điểm tống cựu nghênh tâm. Lễ giao thừa được tổ chức rất trịnh trọng dù là ở trong gia đình hay ở các đình chùa, miếu mạo. Trong lễ giao thừa thì công việc sửa lễ rất quan trọng mà nhà nào cũng phải chuẩn bị kỹ lưỡng, hầu hết dân các vùng đều sửa đồ mặn để cúng chứ không phải đồ chay. Lễ vật trên mâm gồm có con gà trống, mấy cặp bánh chưng xanh, mứt sen, trà, hoa quả, rượu, nước sạch, vàng mã. Theo các cụ lễ quý ở lòng thành với đất trời, tổ tiên chứ không nhiều, rườm rà, phiền phức…Đến thời khắc giao thừa chiêng trống nổi lên, hương khói nghi ngút, ông chủ tế bước ra trịnh trọng khấn lễ theo với tất cả lòng thành trong khoảnh khắc linh thiêng. Họ cầu mong trong năm mới sẽ gặp nhiều may mắn, làm ăn phát đạt, trẻ con mau lớn, người già trường thọ, thanh niên trai gái mạnh khỏe. Lễ giao thừa hiện nay vẫn được duy trì theo nếp xưa.

4.Tục “Xông đất” và chúc Tết:

Người đến đầu tiên trong ngày mồng 1 Tết  là người “xông đất” hoặc gọi “xông nhà”. Người hiền hòa xởi lởi thường được gia đình dạm mời đến xông đất lấy may cho gia đình.

Người đến xông đất năm mới thường có lời chúc đầu năm là: “Tăng phúc tăng lộc”, “Sống lâu trăm tuổi” với người già. “Hay ăn chóng lớn” với bé thơ. Với nhà làm ăn là Nhất bản vạn lợi, của đồng làm ra, của nhà làm nên. Làm ăn phát tài, buôn may bán đắt. Đây là dịp tình làng nghĩa xóm được thắt chặt, “bán anh em xa mua láng giềng gần” thể hiện tính nhân văn của người Việt Nam. Lịch phân bố thời gian vui Xuân như đã thành nếp quen: “mồng một thì ở nhà cha, mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy”. Nhà cha bên nội, nhà mẹ bên ngoại, nhà thầy chỉ thầy dạy học, thầy dạy võ, thầy thuốc, thầy dạy nghề. Điều đó đủ nhắc nhở mọi người sống phải trọn vẹn tình nghĩa với tổ tiên, ông bà ngoại, cha mẹ, luôn luôn biết ơn thầy, những ân nhân của mình. Sau đó mới đến xóm giềng hàng xóm, bạn bè.

5. Phong bao và Lì xì

Sau lời chúc Tết lại có tục “mừng tuổi” bằng tiền, thường là các tiền còn mới  nhưng theo số lẻ cho dư dật.

Những người cẩn thận đã đổi tiền lẻ và tiền mới để dùng vào việc “mừng tuổi” (phía Nam bà con gọi là lì xì hoặc phong bao) thường dùng giấy điều hoặc phong bì đỏ phong bao. Khách đến chơi nhà cũng mừng tuổi trẻ con, trẻ con đến chơi các nhà quen cũng được chủ nhà mừng tuổi.

6. Có nhiều kiêng kỵ trong ngày Tết: Một phong tục đẹp của nhân dân ta là ai cũng có ý thức tránh làm những điều không nên trong những ngày đón một năm mới đến. Ví như:

- Giữ gìn lời ăn tiếng nói, tránh nói những lời khó nghe, tránh nói tục thậm chí tránh cả mắng chó, chủi mèo.

-Giữ cho trẻ khỏi khóc ngằn ngặt, giữ gìn bản thân sao cho khỏi ốm đâu.

-Không làm đổ vỡ, từ gương soi đến bát đĩa.

-Không làm đổ điếu hút thuốc.

-Đối với những nhà đang có tang chế, họ không đi lại thăm tết làng xóm vì sợ nhà đang có tang sẽ mang lại rũi ro, không vui cho nhà người khác.

- Từ trước giao thừa nhà nào nhà nấy đã sạch như lau suốt từ trong nhà ngoài ngõ nhưng ba ngày Tết không thể không có rác. Người ta chỉ vun vào một góc qua 3 ngày Tết mới đổ đi.

-Đến chúc Tết hoặc thăm nhau trong máy ngày Tết gia chủ thế nào cũng mời mộc không mâm cao cổ đầy cũng cây nhà lá vườn, chén trà, chén rượu. Tuyệt không nên từ chối, nhấm nháp tí chút lấy lộc, để gia chủ lấy làm mừng.

7. Tục khai bút:Tục “Khai bút đầu xuân không phải là một nghi lễ bắt buộc trong ngày tết. Nhưng từ lâu, nó đã được duy trì như một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt. Trước đây thường chỉ có những ông đồ, thầy đồ, học sĩ…mới thực hiện nghi thức khai bút. Sau lễ cúng giao thừa, họ sẽ đốt lư trầm bên bàn viết và cầm cây bút thảo những câu đối hay, những chữ có ý nghĩa lên giấy đỏ hoặc giấy hoa tiên.

Ngày nay, tục “khai bút đầu xuânđã có nhiều thay đổi. Nó không còn phổ biến mà mang đậm ý nghĩa như xưa nữa. Tuy nhiên, với nhiều gia đình, đặc biệt là các học sinh, giới văn sĩ, thi sĩ, người làm nghề viết lách… phong tục này vẫn rất được coi trọng. Bởi ngoài những giá trị chân thiện mỹ, việc khai bút đầu xuân còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nó không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một sự nghiệp, sự học mà còn gửi gắm rất nhiều tâm tư, nguyện vọng về một năm mới suôn sẻ, hạnh phúc và thành công.

Sau “Ba ngày tết là bảy ngày xuân”, “bảy ngày xuân” từ khắp các làng quê trong cả nước Việt còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian như: hô bài chòi, chơi đu, hát sắc bùa, kéo dây, chơi cờ người, đua thuyền…Các trò chơi đã làm cho lễ Tết Nguyên Đán thêm thiêng liêng, vui nhộn, ấm cúng và rộn ràng trong mọi gia đình, dòng họ, ngõ xóm.

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Thanh

 Từ khóa: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

niềng răngniềng răng không mắc cài, ,giày nam công sở, Phẫu thuật hàm hôNâng mũi bọc sụnbấm mí hàn quốcTour du lịch miền tây,Nâng mũi cấu trúc S LineNâng mũi Hàn Quốc bọc sụnchậm kinh nguyệt ,Bệnh viện thẩm mỹphẫu thuật hàm mómcách làm đẹp da mặtthẩm mỹ viện uy tíntiếng anh a2thuốc liền sẹo tốt nhấtlikewatch.com - Đồng hồ tự động,bệnh đái tháo đường, thi bằng lái xe máy, tour du lich thai lan , Chung cư 378 Minh Khai, ca phe nguyen chat, du lich singapore, du lich thai lan gia re, dich vu lam visatăng like ảnh facebookflamingo forest in the sky,hàng nhật xách tay, du lịch thái lan 2017, stud 100, Đại học Duy Tân, du lịch, ket qua.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây