Tỏa sáng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

Thứ ba - 22/07/2014 15:40
Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại do Đảng ta lãnh đạo nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có biết bao người con của nhân dân ta đã anh dũng hy sinh, cống hiến xương máu, sức lực, tài sản và trí tuệ cho đất nước.
Các tổ chức đoàn thể dâng hương tri ân các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Trường Sơn
Các tổ chức đoàn thể dâng hương tri ân các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Trường Sơn

Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc, hàng triệu người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh hoặc cống hiến một phần thân thể của mình cho sự nghiệp cao cả của dân tộc, hàng trăm nghìn người vợ, người mẹ đã hiến dâng người chồng và nhiều người con cho Tổ quốc, điển hình như: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, có 9 con và 1 con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; mẹ Phạm Thị Ngư ở xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân;mẹ Trần Thị Mít, xã Hải Phú, huyện Hải Lǎng, tỉnh  Quảng Trị, có 9 con là liệt sĩ;mẹ Nguyễn Thị Rành ở ấp Trúc Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, có 8 con là liệt sĩ, bản thân bà là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Lê Thị Tự ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, có 9 con là liệt sĩ v.v.... Tổ quốc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn ấy.

Để đền đáp một phần những cống hiến, hy sinh của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, ngày 16 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”; từ đó đến nay đã trở thành một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, để nhân dân ta tỏ lòng “hiếu nghĩa bác ái” và bày tỏ sự biết ơn các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Ngày 27/7/1947 đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông tin, tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại từ ( Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sĩ, và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ tịch chọn một ngày làm ngày “thương binh”. Sau khi cân nhắc về nhiều mặt, Hội nghị nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27/7/1947 làm ngày “thương binh toàn quốc”. Chiều 27/7/1947, một cuộc mít tinh quan trọng tổ chức tại huyện Đại Từ (Bắc Thái) có 2000 người tham gia. Ban Tổ chức ngày “thương binh toàn quốc” đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ tịch. Trong thư Người cho biết đã ủng hộ  một chiếc áo lụa của Hội Phụ nữ gửi biếu Người, một tháng lương và một bữa ăn trưa của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày “Thương binh” đã được tổ chức trọng thể thường kỳ hàng năm.

Lễ dâng hương tri ân các anh hùng liệt sỹ tại Thành Cổ Quảng Trị

Sau 9 năm kháng chiến,ngày 31 tháng 12 năm 1954 Bác Hồ đã đến làm lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ Ba Đình Hà Nội.Trong diễn từ tại buổi lễ, Người viết: "Hỡi các liệt sĩ. Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Tôi thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ. … Một nén hương thanh. Vài lời an ủi"(1). Cảm động biết bao khi một vị Chủ tịch nước, hàng năm cứ đến Ngày Thương binh liệt sĩ lại gửi thư cùng một tháng lương của mình, kèm đó, khi thì một bữa ăn, khi thì một món quà (do đồng bào gửi biếu) để tặng anh em thương binh. Với quan điểm khoa học và đầy tinh thần lạc quan "tàn nhưng không phế", Bác khuyên anh em thương binh: "Khi đã khôi phục sức khoẻ phải hăng hái tham gia công tác sản xuất để trở nên người công dân kiểu mẫu. Bác chúc các gia đình liệt sĩ trở thành những "gia đình cách mạng gương mẫu"(2).

Từ năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh- Liệt sĩ” để thể hiện đầy đủ hơn tình cảm, đạo lý, nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta và các thế hệ người Việt Nam đối với những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Trước lúc đia xa, trong bản “Di Chúc” Người không quyên căn dặn “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…) Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm  mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời  phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự  hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.  Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (Nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét”(3).

Thực hiện tư tưởng của Bác, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật ưu đãi đối với người có công, khắc phục một số bất hợp lý, giải quyết một khối lượng lớn công việc do hậu quả của chiến tranh để lại, hình thành một hệ thống văn bản pháp quy có hiệu lực thực hiện thống nhất trong cả nước, phục vụ cho yêu cầu của giai đoạn mới. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật ưu đãi người có công, bắt đầu từ Chỉ thị số 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sỹ sau chiến tranh. Sau đó Nhà nước ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư nhằm sửa đổi, bổ sung chế độ ưu đãi đối với người có công; xác nhận chính xác đối tượng người có công để họ được hưởng chế độ trợ cấp theo quy định của Nhà nước. Cùng với sự đổi mới của đất nước khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, công tác ưu đãi người có công với cách mạng được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục ghi nhận: "Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho những người và gia đình có công với cách mạng". Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI) tháng 5-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Trong suốt quá trình đổi mới, ngay khi nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta đã sớm thực hiện chủ trương phát triển đồng bộ kinh tế và xã hội, chú trọng kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững, ổn định chính trị xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta"(4).

Vấn đề ưu đãi người và gia đình có công với cách mạng đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Chương V, Điều 67 của Hiến pháp năm 1992: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”(5). Nếu như Điều 67 Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định 3 đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước là: thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,  Điều 59 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”(6). Như vậy, mọi đối tượng là người có công với nước đều được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Đây là điểm tiến bộ rất đáng ghi nhận so với Hiến pháp năm 1992, thể hiện truyền thống nhân văn cao đẹp của dân tộc ta.

Đêm hoa đang tri ân các anh hùng liệt sỹ trên dòng sông Thạch Hãn - Thành Cổ Quảng Trị

67 năm trôi qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu sáng kiến lấy ngày 27/7 hằng năm là “Ngày Thương Binh, Liệt sĩ”. Từ đó đến nay, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta càng được thắp sáng trong tâm trí mỗi người Việt Nam yêu nước, trở thành phong trào của toàn xã hội chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với gia đình liệt sĩ, thương binh và các đối tượng chính sách. Các tầng lớp nhân dân trong cả nước, từ các cháu thiếu niên, nhi đồng đến người cao tuổi; từ các đơn vị, các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế; từ các cơ quan trường học, bệnh viện đến các đơn vị làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo xa xôi…đều có những việc làm nghĩa tình, thể hiện sự trân trọng và tôn vinh những người đã hy sinh xương máu hoặc một phần cơ thể cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Tính đến nay, cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu đối tượng người có công, chiếm khoảng gần 10% dân số. Hiện còn trên 1,47 triệu đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Nhà nước... Mặc dù hàng năm Nhà nước bố trí một khoản ngân sách không nhỏ để thực hiện chính sách ưu đãi người có công, tuy nhiên so với nhu cầu và thực tế cuộc sống của người có công đòi hỏi sự chung tay chia sẻ của toàn xã hội để người có công có cuộc sống ngày càng ổn định hơn. Riêng tỉnh Quảng Trị, theo số liệu của  Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Trị,đến nay, trên địa bàn tỉnh có trên 102.800 người có công với cách mạng đã được xác nhận, chiếm khoảng 17% dân số (trung bình chung của cả nước là 10%). Trong đó có 18.893 liệt sĩ, 1.038 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11.462 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, 3.083 bệnh binh, 15.696 người có công giúp đỡ cách mạng, 44.957 người hoạt động kháng chiến; 2.709 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học… Hiện có trên 20.500 đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Nhà nước với tổng số tiền chi trả trợ cấp hàng tháng trên 26 tỷ đồng. Những năm qua, các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “Xã hội hóa công tác chăm sóc người có công với cách mạng” được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả thiết thực. Từ năm 1995 đến nay, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đã huy động trên 93,5 tỷ đồng, xây dựng mới 3.594 và sửa chữa 1.887 căn nhà tình nghĩa. 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đều được chăm sóc, phụng dưỡng đến cuối đời, 92% xã phường được công nhận là xã phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công, 98% người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống nơi cư trú.

Để thiết thưc chào mừng kỷ niệm 67 năm ngày thương binh liệt sỹ,thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền đã trình Chủ tịch nước dự kiến về mức quà tặng cho đối tượng có công với cách mạng. Tổng kinh phí để thực hiện là hơn 374 tỷ đồng.

Mức quà tặng theo phương án trình Chủ tịch nước được chia thành hai mức: 400.000 đồng và 200.000 đồng. Theo đề xuất của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, mức quà 400.000 đồng để tặng quà các đối tượng sau: Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thân nhân liệt sĩ, thân nhân hai liệt sĩ trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên (bao gồm cả những thương binh loại B được công nhận từ trước ngày 31-12-1993); người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Mức quà 200.000 đồng để tặng thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 80% trở xuống (bao gồm cả những thương binh loại B được công nhận từ trước ngày 31-12-1993); thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động; đại diện thân nhân chủ yếu của liệt sĩ; đại diện gia đình thờ cúng liệt sĩ; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống.

Giữa những ngày “Tháng Bảy tri ân”, tổ quốc ta, nhân dân ta đời đời nhớ ơn và ghi sâu công lao to lớn của các liệt sĩ, thương binh, những người có công với nước trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

 

Tài liệu tham khảo:

(1)- Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb, CTQG, H. 2002, tr 435

(2)-Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, CTQG, H. 2002, tr 471.

(3)-Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb, CTQG, H. 2002, tr 134 .

(4)-Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

(5)-Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nxb CTQG, H, 1993, tr 36

(6)-Điều 59, Hiến pháp đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Thanh

 Từ khóa: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây