Về bức phù điêu Brahma của người Chăm phát hiện tại xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị

Thứ sáu - 22/08/2014 08:51
Trong diễn trình lịch sử gần một thiên niên kỷ, mảnh đất Quảng Trị là một phần lãnh thổ của vương quốc cổ Chămpa (từ thế kỷ II đến thế kỷ XV), trong quá trình tồn tại và phát triển, người Chăm đã để lại nhiều dấu tích văn hóa rất phong phú và độc đáo, góp phần tạo nên sự đa dạng cho văn hóa Quảng Trị.
Bức phù điêu Brahma
Bức phù điêu Brahma

Những di tích tiêu biểu trước hết phải kể đến là các công trình như thành lũy, đền tháp, các công trình khai thác nước, các tác phẩm điêu khắc bằng đá… Những dấu tích văn hóa này trải qua thời gian, do chịu nhiều tác động của thiên nhiên, xã hội nên đã và đang đứng trước những thử thách nghiệt ngã. Phần lớn các đền tháp, thành lũy đã bị hủy hoại hoặc chỉ còn là những phế tích. Các tác phẩm điêu khắc nằm rải rác nhiều nơi ở trong lòng các di tích hoặc đang được người dân các địa phương thờ cúng trong các đền miếu hoặc đã được đưa về bảo quản tại kho cơ sở của Bảo tàng Quảng Trị và Bảo tàng Nghệ thuật Chăm Đà Nẵng.

Một trong số các tác phẩm điêu khắc bằng đá mới nhất mà Bảo tàng sưu tầm được là bức phù điêu thần Brahma. Bức phù điêu này do người dân phát hiện trong lúc đào móng xây dựng nhà, nằm ở độ sâu hơn 1m. Khu vực phát hiện nằm kề khu đất gọi là cồn Giàng thuộc địa phận làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong; cũng trong khu vực này trước đây, Bảo tàng Quảng Trị đã đưa về và hiện đang được trưng bày hai tấm phù điêu lá nhĩ, các khối đá đài thờ…

Bức Phù điêu được tạc từ một thớt đá sa thạch, hình chữ nhật (cao 85cm, rộng 50cm), màu xám, hạt thô. Toàn bộ nội dung của phù điêu được tập trung thể hiện ở một mặt, đóng trong một khung hình chữ nhật được khoét lõm sâu từ 5cm đến 10cm. Nội dung tấm phù điêu thể hiện hình tượng thần Brahma. Thần có ba đầu, một đầu nhìn thẳng phía trước, hai đầu còn lại nhìn về hai phía. Đầu thần đội chiếc mũ tạo hình những cánh sen, phần trên giống như một búi tó. Khuôn mặt nghiêm nghị, trán ngắn, hẹp, lông màu rậm, mắt mở to hơi xếch lên phía trên. Cánh mũi to, môi dày, khóe miệng mở như đang mĩm cười. Hai tai đeo đồ trang sức to nặng, trễ xuống quá cổ.

Thân hình thần nở nang, rắn chắc; hai cánh tay trong tư thế ép sát hông, khuỷu tay tựa lên hai bắp đùi, hai bàn tay cầm hai vật biểu trưng của thần. Nửa thân trên để trần, nửa thân dưới mang một dãi sampot với đai thắt lưng dài buông xuống đến tận gót chân. Hai gót chân chụm sát vào nhau, bàn chân mở rộng về hai phía, thần đứng bằng hai mũi bàn chân. Phần cổ, cổ tay và cổ chân có đeo các chuổi trang sức.

Theo thần thoại Hindu, thần Brahma là thần sáng tạo là chúa tể của các vị thần và của loài người, là đấng tự sinh và là đấng sáng tạo vũ trụ duy nhất, tối cao. Trong ý tưởng xưa của người Ấn Độ, thần này cùng với các thần Vishnu (bảo tồn), Shiva (hủy diệt) hợp thành bộ ba gọi là Trimurti (ba hình thức). Vishnu và Shiva là hai thế lực đối nghịch nhau, còn Brahma là một thế lực cân bằng.

Thần Brahma có màu da đỏ hồng. Màu đỏ là tượng trưng cho nguyên lý sáng tạo vũ trụ. Brahma có bốn canh tay cầm bốn pho kinh Véda; hoặc có khi cầm bốn pho Véda trong tay thứ nhất, tay thứ hai cầm cây trượng, tay thứ ba cầm cây cung và tay thứ tư cầm một bình nước. Cuộc đời của Brahma chia ra ngày và đêm; trong đó ngày thức đêm ngủ. Khi Brahma thức, vạn vật sinh trưởng. Khi ông ngủ vũ trụ tiêu tan, nhưng rồi sẽ tái sinh lại sau khi ông tỉnh giấc. Một ngày một đêm của Brahma dài bằng 4.320.000 năm.

Các truyền thuyết và sách cổ tích Ấn Độ cổ đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau để giải thích lai lịch của Brahma. Một thuyết kể lại rằng Brahma ra đời do cuộc phối hợp giữa đấng tối cao với năng lực của ngài là Maya; Một thuyết khác lại nói Brahma được sinh ra trong một quả trứng vàng, tức noãn kim trôi nổi trên mặt biển vô biên. Sau khi nằm trong trứng vàng một năm, Ngài mới phân quả trứng ra làm đôi, một nửa trên là trời, một nửa dưới là đất và khoảng giữa là không trung. Ngài nặn cho núi cao, đào cho biển sâu, ban sinh khí cho chư thần, tạo ra thể xác và sự sống cho muôn loài, trao quyền hành chi phối muôn loài cho các thần, quy định trật tự vũ trụ; Thuyết thứ ba phổ biến hơn cả cho rằng Brahma được sinh ra từ một đóa sen mọc từ rốn của thần Vishnu, là hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa tái sinh do những mầm mống của kiếp trước được bảo tồn trong Vishnu. Brahma có năm đầu nhưng bị Shiva hủy mất một đầu nên chỉ còn bốn đầu, vì thế Brahma còn được gọi là thần bốn đầu hay thần bốn mặt. Việc Brahma có năm đầu, sách cổ tích viết rằng: Brahma lấy chất vô nhiễm của cơ thể mình tạo ra nữ thần Satarupa kiều diễm. Nàng ta đáng yêu đến nỗi Brahma không ngớt đăm đăm nhìn nàng và mỗi khi nàng nhích qua một bên để tránh cái nhìn của ông thì Brahma lại mọc ra thêm một cái đầu mới để có thể tiếp tục nhìn nàng. Cuối cùng Brahma vượt qua sự e lệ của nàng và cầu hôn với Satarupa. Họ lui về sống một nơi bí mật trong 100 năm thiên giới, cuối cùng thì Manu, con người đầu tiên đã được sinh ra.

Việc thờ cúng Brahma có lẽ đã đạt đến đỉnh điểm vào các thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ nhất sau CN. Tuy nhiên, thần này thường được xem là ít quan trọng hơn các thần Vishnu và Shiva. Sự mất đi tính chất tối cao của thần Brahma được giải thích trong một câu truyện thần thoại nói về nguồn gốc của thần Shiva. Theo truyện này, một ngày kia Brahma và Vishnu đang tranh luận xem ai trong họ là người có quyền năng nhất. Cuộc cãi cọ đang hồi sôi nổi nhất thì từ dưới đại dương của vũ trụ trồi lên một linga (sinh thực khí nam) - vật biểu trưng có hình dương vật của thần Shiva - thật lớn, xung quanh là một vòng lửa, khi Brahma và Vishnu đang xem xét cái linga thì nó nổ tung ra. Hai thần này nhìn thấy trong ấy là vị thần Shiva sáng tạo tối cao và họ phải tuân phục quyền uy của thần này.

Trong nghệ thuật điêu khắc, thần Brahma thường được thể hiện với bốn đầu và bốn tay, mỗi tay cầm một cuốn kinh Vệ Đà, thánh điển của người Ấn Độ cổ đại. Các vật biểu trưng khác của thần gồm một chai đựng nước sông Hằng và một vòng hoa hồng. Thần cưỡi trên một con ngỗng hay con thiên nga có tên Hamsa. Vợ của Brahma là người đẹp Sarasvati, nữ thần của học vấn và là thần đỡ đầu của nghệ thuật, khoa học và ngôn từ.

Từ khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa, văn minh Ấn Độ, người Chăm cổ theo Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo trở thành tôn giáo chính của người Chăm, họ thờ một hay cả ba vị Thần của Tam vị nhất thể là Brahma - Vishnu - Shiva. Tuy nhiên người Chăm cổ tôn sùng thần Shiva hơn cả. Vì thế, trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa, hình ảnh thần Brahma chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn. Brahma cũng được thể hiện bằng các khuôn mặt khác nhau, mỗi khuôn mặt nhìn về một hướng. Brahma thường khoác chiếc áo làm bằng da con linh dương màu đen, ngồi theo kiểu thiền định trên một cỗ xe do Hamsa kéo hoặc ngồi trên bông hoa sen. Thần Brahma thường có ba đầu.

Phù điêu này là tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tuyệt đẹp của những nghệ nhân Chămpa xưa. Nhìn vào hình khắc trên phù điêu cho biết đối tượng thờ cúng trong ngôi tháp đó; thông thường những phù điêu như thế này được gắn ở cửa chính vào khu tháp. Phù điêu thần Brahma được phát hiện ở khu vực nguyên xưa là khu đền tháp của người Chăm. Khu đền tháp này đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, khảo sát và nhiều trong số những di vật đó hiện đang được trưng bày ở bảo tàng Quảng Trị. Việc phát hiện bức phù điêu này là đáng quý, vì đây là bức phù điêu thần Brahma đầu tiên phát hiện tại Quảng Trị, góp phần làm phong phú thêm hiện vật văn hóa người Chăm tại Bảo tàng. Ngoài ra, việc phát hiện phù điêu thần Brahma bên cạnh bức phù điêu Shiva và Uma phát hiện trước đó có thể còn một bức phù điêu thần Vishnu nằm đâu đó quanh khu vực tháp Chăm Trà Liên.

Qua nghiên cứu các họa tiết điêu khắc và căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về tháp Chăm Trà Liên, phù điêu thần Brahma này thuộc phong cách nghệ thuật Đồng Dương (nửa cuối thế kỷ IX).

Cho đến nay, văn hóa Chăm đã không còn là một bộ phận tồn tại độc lập và song hành với chính chủ nhân của nó. Tất cả hòa chung vào dòng chảy của văn hóa người Việt Quảng Trị - lớp người kế nhiệm đã hợp thức hóa khá mềm dẻo và khôn ngoan trên nền văn hóa của cư dân Chăm để làm phong phú, đa dạng vốn liếng di sản của mình.

Tài liệu tham khảo

1. Doãn Chính. Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1998.

2. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch). Lịch sử văn minh Ấn Độ. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà Nội, 2003.

3. Lương Ninh. Lịch sử vương quốc Champa. Nxb Đại học quốc gia. Hà Nội, 2004.

4. Lê Đức Thọ. Văn hóa Chămpa di tích và huyền thoại. Nxb Thuận Hóa. Huế, 2012.

Bài; ảnh: Hoàng Ngọc Thiệp

 Từ khóa: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây