Về hai bức Trướng “Thượng Đẳng Tối Linh” tại Bảo tàng Quảng Trị

Thứ hai - 13/10/2014 08:37
Vào năm 1968, trong lúc đào đất tại miếu Giàng thuộc làng Kim Đâu (xã Cam An, huyện Cam Lộ), ông Hoàng Chung đã phát hiện được hai bức trướng bằng gỗ ở độ sau 30cm, trong thời gian còn chiến tranh, ông Chung đã đem chôn cất trong Vườn nhà. Sau năm 1975 mới đào lên cất giữ tại gia đình, đến tháng 10/1999, ông Chung đã chuyển giao hai bức trướng này cho Bảo tàng Quảng Trị bảo quản và phát huy tác dụng trong công tác nghiên cứu, trưng bày.

Hai bức trướng có hình chữ nhật, làm bằng gỗ mít, được sơn son, thếp vàng và chạm trổ rất tinh xảo. Do trãi qua thời gian và không được bảo quản tốt nên phần thếp vàng đã bị bong tróc, chỉ còn lổ chổ một vào nơi. Toàn bộ bức trướng gồm hai phần, bên trên là phần trướng và phần cán bên dưới. Cả hai phần đều được tạo tác bằng những nét chạm trổ thông qua các mô típ trang trí phủ lên toàn cục. Đáng tiếc là phần cán đã bị cắt. Bố cục của phần trướng gồm hai mãng khối: Mãng chính là khung hình chữ nhật ở chính giữa với bốn chữ Hán viết theo lối đại tự (mỗi mặt 2 chữ); mãng khối thứ hai với chức năng phụ để làm nỗi bật cho mãng chính với sự thể hiện hoàn hảo các mô típ chạm khắc bao bọc xung quanh, trên dưới như là một đường viền nhưng mặt khác là tạo cho bức trướng đạt đến trình độ hoàn hảo về một tác phẩm điêu khắc gỗ.

  

Hai bức Trướng “Thượng Đẳng Tối Linh”tại bảo tàng Quảng Trị 

Ở mảng chính chạm nổi 4 chữ Hán “Thượng đẳng tối linh” theo lối chữ chân khá đẹp, được đóng trong khung hình chữ nhật xung quanh tranh trí bằng họa tiết hồi văn lồng dây leo, hồi văn chữ vạn, hoa lá hóa rồng, cúc mãn khai cách điệu. Những họa tiết trang trí này được hể hiện qua hai lớp: một, bị gới hạn trong hai lần khung có bậc; hai, phóng khoáng viền xung quanh bề mặt có mẫu tự. Mặt trước là hai chữ Thượng đẳng, còn mặt sau là hai chữ Tối linh. Thượng đẳng tối linh mang ý nghĩa là một vị thần được phong bậc thượng đẳng (1 trong 3 bậc: Thượng - Trung - Hạ) và được coi là rất thiêng. Có thể xem mãng khối chính này là sự thể hiện nội dung, bản chất của bức trướng. Kỹ thuật được được sử dụng là lối chạm bong.

Ở mảng khối còn lại, một bức trướng sử dụng kỹ thuật chạm bong, bức còn lại chạm lộng. Các mô típ chạm khắc không bị giới hạn bởi một đường biên nào. Vì thế toàn bộ các họa tiết thể hiện đều như có cảm giác tràn ra, vươn lên lấn át không gian xung quanh.

Bức trướng chạm bong, ở phần đế (nơi tiếp giáp với cán) là mảng chạm bong với sự có mặt của hổ phù ngậm chữ Thọ. Đầu hổ phù nhô hẳn lên trên bề mặt, thân và chân hổ phù vươn ra hai bên chiếm trọn phần chiều ngang bên dưới của trướng. Đở cho hổ phù và cũng là bệ đở cho bức trướng là họa tiết hoa cúc mãn khai cách điệu nối giữa phần cán và phần trướng tạo ra một sự hòa nhập tinh tế giữa trướng và cán. Hai bên khung hình chữ nhật gồm 6 con rồng và 2 chim phụng, mỗi bên thiết trí 3 con rồng và 1 chim phụng được tạc theo mô típ long ẩn vân chiếm hết chiều cao hai góc của bức trướng. Với kỹ thuật chạm bong nên các đường lượn của rồng, những chi tiết mây xoắn, đầu, đuôi rồng, đầu, cánh chim phụng được thể hiện một cách khá hoàn chỉnh. Mô típ rồng ở đây là rồng 3 móng (rồng dân gian). Các đầu rồng được tạo tác giữa lối tả thực và lối cách điệu. Đuôi rồng chạm thành hình vân xoắn. Đặc biệt ở 4 góc của trướn, nghệ nhân tạo tác cố tình tạo điểm nhấn bằng cách đặt vào hai góc dưới hai đầu rồng hướng ra hai bên và hai góc trên hai chim phụng đang giang cánh. Nhờ đó các góc của bức trướng thanh thoát hơn. Phần trên cùng của bức trướng (phần đầu) là mãng chạm được tập trung thể hiện thông qua họa tiết rồng chầu nguyệt và mãng mây hình ngọn lửa (hay gọi là tam sơn). Trên một thiết diện chiều ngang lớn hơn hai bên một chút, mô típ rồng chầu nguyệt được chạm bong ở các chi tiết: thân, các chi, đuôi, các vòng mây xoắn cùng với mặt nguyệt. Trung tâm của mãng này là mặt nguyệt. Hai bên là hai con rồng chầu vào với những đường lượn cong mềm mại, đuôi xòe ra vừa phải. Tuy vậy, về hình khối thì họa tiết mãng mây xoắn hình ngọn lửa là mãng chủ đạo. Bằng việc cố tình tạo cho đám mây hình xoắn mập mạp đang vươn lên, tỏa ra phía trên đầu bức trướng, nghệ nhân tạo tác đã không chỉ hoàn thiện về mặt ý tưởng, nội dung cần thể hiện, mà còn làm cho chiều cao của tác phẩm dường như không bị giới hạn; bố cục mãng khối đạt tính mỹ thuật cao, đáp ứng được yêu cầu về chức năng của một bức trướng.

Ở phần ngoài của bức trướng chạm lộng, hai bên được chạm giống nhau, mỗi bên trang trí hai con rồng (mô típ long ẩn vân), con phía trên đầu hướng vào trong, con bên dưới đầu hướng ra ngoài, đây là loại hình rồng dân gian với 4 móng. Phần đỉnh trên cùng là những áng mây đao mác thuộc mô típ tam sơn, dưới tam sơn là lưỡng long chầu nguyệt, đầu của hai con rồng ở đây được chạm nỗi lên rất rõ rệt, mặt nguyệt được lòng trong các áng mây hồi cố, ở hai góc (bên dưới lưỡng long chầu nguyệt) được tạo tác hai con chim phụng đang trong tư thế bay lên, một cánh xòe lên trên, cánh khác xòe về dưới, cánh của chim phụng được nghệ nhân thể hiện rất uyển chuyển và rõ nét bằng những đường cong lượn sóng. Chim phụng kẹp lạc thư. Hình tượng chim phụng với hàm ý mang điều may mắn, tốt lành cho dân chúng. Ở bên dưới bức trướng là hình tượng hổ phù ngậm chữ thọ - hình tượng này thể hiện sự trường tồn của vị thần, thân và chân hổ phù vươn ra hai bên chiếm trọn phần chiều ngang bên dưới của trướng. Toàn bộ bức trướng được gắn vào một cán cao, nhưng do khó khăn trong việc cất giữ, nên đã bị cắt bỏ chỉ còn lại 14cm.

Hai bức trướng Thượng đẳng tối linh là những tác phẩm nghệ thuật về điêu khắc gỗ có giá trị cao của người Việt Quảng Trị. Với sự khéo léo, tính tư duy nghệ thuật của đôi tay và khối ốc của người thợ tạo tác bức trướng không chỉ thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân chạm khắc gỗ cổ truyền Quảng Trị mà thông qua tác phẩm để gửi gắm tất cả những quan niệm nhân sinh về dời sống văn hóa, xã hội đương thời. Các họa tiết trang trí được nghệ nhân thể hiện rất tinh xảo và uyển chuyển kết hợp với những đường cong trên bức trướng tạo nên hình ảnh các con vật và phối cảnh được lột tả một cách sinh động. Những đường chạm đuôi rồng uốn lượn ra ngoài tạo cảm giác nhẹ nhàng, bay bổng của toàn bức trướng. Các linh vật (long - phụng - hổ) thể hiện trên bức trướng là những loài mang ý nghĩa linh thiêng, phần nào đó thể hiện được chân dung của vị thần đượng thờ phụng.

Trướng là một trong những loại hình mang chức năng thờ tự và thường gắn liền với các vị thần được tôn vinh và phân phong. Vì thế, trướng thường có mặt tại các đình, đền, miếu của người Việt khi tỉnh tọa trong các điện thờ hoặc trở thành vật nghi thức không thể thiếu trong các đám rước thần linh vào những kỳ nghinh tế.

Hai bức trướng là những tác phẩm điêu khắc gỗ có nội dung văn hóa, lịch sử, nghẹ thuật rất độc đáo. Về mỹ thuật, qua phong cách thể hiện thì chúng thuộc dòng mỹ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX); về văn hóa thì hai di vật này phản ánh khá trung thực đời sống tín ngưỡng tâm linh của người Việt; về lịch sử, hai bức trường này là là những sản phẩm của nghề chặm khắc gỗ địa phương Quảng Trị, có thể chúng được tạo tác bởi các tay thợ lành nghề của làng Cát Sơn (xã Trung Giang, huyện Gio Linh).

Dựa trên những cứ liệu lịch sử về địa điểm phát hiện hai bức trướngở khu vực miếu Giàng (làng Kim Đâu, xã Cam An, huyện Cam Lộ), chúng ta có thể nhận thấy mối liên hệ giẵ bức trướng với vị thần được thờ rằng: Miếu Giàng là ngôi miếu do người Việt dựng lên trên nền của một ngôi tháp Chăm sụp đổ. Vị thần được thờ tại các ngôi miếu loại này thường thấy ở Quảng Trị là thần Thiên Yana Ngọc Diễn Phi. Đó là một vị thần được Việt hóa từ một vị thần Chăm: Thần mẹ xứ sở - Ponaga. Bốn chữ Thượng đẳng tối linh là để chỉ vị thần này.

Bài ; ảnh: Nguyễn Cường

 Từ khóa: chung đã

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây